Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

Sự thất bại của Cơ Đốc Nhân

Trong phần trích dẫn từ bài viết của Sam Ericsson tuần trước, các bạn đã một phần nào hình dung được công thức để hóa giải mâu thuẫn của Cơ Đốc Nhân.  Hôm nay, tôi muốn chia sẻ với các bạn một câu truyện khi Cơ Đốc Nhân kiện tụng sẽ dẫn đến sự hủy phá của thân thế Đấng Christ. 


Ngày 30 tháng 12 năm 1976, Tòa Án Phúc Thẩm tiểu bang California ban hành phán quyết tái khẳng định kết quả của tòa án sơ thẩm trong vụ kiện Scott v. Family Ministries.  Theo phán quyết, (1) Family Ministries sẽ không còn quyền giám hộ hoặc kiểm soát với các trẻ em và sẽ không được tiếp tục cho nhận con nuôi nếu không có phán quyết nào của tòa; (2) yêu cầu Family Ministries giao lại toàn bộ quyền giám hộ với các trẻ em cho Sở Nhận Con Nuôi hạt Los Angeles; (3) hủy bỏ các trường hợp nhận con nuôi và nhận nuôi tạm thời hoặc chăm sóc do Family Ministries đã triển khai trước đó; (4) giao lại quyền giám hộ với các trẻ em cho Sở Nhận Con Nuôi hạt Los Angeles. 

Đây là một kết quả khủng khiếp xuất phát từ những Cơ Đốc Nhân rất tận hiến với công việc, nhưng đã không biết cách giải quyết mâu thuẫn theo cách mà Chúa hướng dẫn. 

Câu truyện bắt đầu khi World Vision mở trung tâm chăm nuôi trẻ bị thiếu dinh dưỡng ở Phnom Penh từ đầu năm 1970.  Đến tháng 4 năm 1975, việc lực lượng Khmer Đỏ có khả năng chiếm Phnom Penh đã trở nên rõ ràng.  Được sự cho phép của chính phủ Campuchia, World Vision đưa 20 trẻ em từ Phnom Penh sang Thái Lan, rồi từ đó đến California, Hoa Kỳ.  Vì World Vision không phải là tổ chức được cấp giấy phép cho nhận con nuôi tại California, họ trao lại quyền giám hộ của cả 20 trẻ em này cho Family Ministries với chỉ dẫn là chỉ cho các gia đình Cơ Đốc nhận nuôi các trẻ em này. 

Family Ministries phục vụ một cộng đồng Cơ Đốc Cải Chính truyền giáo (evangelical Protestant) và theo họ, Công Giáo (Catholics), Anh Giáo (Anglican/Episcopalians), Do Thái Giáo (Jews), Mormon, Sabath (Seventh Day Adventists) và Phật Giáo (Buddhists) không được coi là Cơ Đốc Cải Chính truyền giáo. 

Richard Scott, một trong các bác sỹ đến đón 20 em người Campuchia tại sân bay Los Angeles khi họ đến Hoa Kỳ.  Ông Scott khám cho Toup Ven, một em trong số đó, và nhận thấy em có sức khỏe bình thường.  Khi Toup Ven được đưa lên xe buýt, em bị đập đầu vào cửa xe và bị vỡ đầu.  Bác sỹ Scott chăm sóc cho Toup Ven tại bệnh viện.  Sau đó, bác sỹ Scott và gia đình yêu quý Toup Ven và liên hệ với Family Ministries để xin nhận nuôi em.  Family Ministries trả lời rằng vì gia đình bác sỹ Scott theo Anh Giáo, theo họ, không phải là Cơ Đốc Cải chính truyền giáo, nên họ không thể để cho gia đình ông bác sỹ nhận nuôi Toup Ven. 

Ngày 25 tháng 4 năm 1975, vợ chồng bác sỹ Scott đại diện cho chính mình và đại diện cho Toup Ven kiện Family Ministries vì Family Ministries đã áp đặt niềm tin của mình lên người khác. 

Tòa Án Phúc Thẩm đồng ý với tòa sơ thẩm cho vợ chồng bác sỹ Scott thắng kiện vì theo luật pháp California, "trẻ em sẽ được cho nhận nuôi bởi bố mẹ nuôi có cùng niềm tin tôn giáo giống với chúng hoặc của bố mẹ đẻ."  Tòa án mặc dù không xác nhận được niềm tin tôn giáo của Toup Ven nhưng vì con số thống kê cho thấy 92% người dân Campuchia lúc đó theo Phật Giáo, cho nên việc Family Ministries áp đặt hạn chế cho bố mẹ nhận con nuôi phải là Cơ Đốc Cải Chính truyền giáo là vi phạm luật.  Đó là lý do mà Tòa Án Phúc Thẩm đồng ý tước Family Ministries khỏi mọi quyền giám hộ với cả 20 trẻ em Campuchia đó! 

Ở đây, khoan nói về góc nhìn giáo lý khi Family Ministries không coi Anh Giáo hay Công Giáo là Cơ Đốc Cải Chính truyền giáo hay giáo lý nào mới đúng.  Chỉ xét từ khía cạnh giải quyết tranh chấp giữa những Cơ Đốc Nhân.  Dù ai có thắng vụ kiện thì thân thể của đấng Christ cũng đã bị phá hoại!  Với phán quyết này của tòa, các tổ chức nhận con nuôi Cơ đốc trên toàn California thực sự gặp khó khăn khi muốn tìm cặp bố mẹ cơ đốc để xin nhận con nuôi.   


Kết quả của phán quyết này, là quyền giám hộ đối với cả 20 trẻ em Campuchia này được giao lại cho cơ quan hành chính hạt Los Angeles và họ có toàn quyền lựa chọn bố mẹ nuôi cho các em, và niềm tin tôn giáo sẽ không còn là một tiêu chí để lựa chọn bố mẹ nuôi nữa.  Mục tiêu tìm bố mẹ nuôi cho các em với đức tin Cơ Đốc của Family Ministries và World Vision vì thế mà hoàn toàn thất bại.  Việc khác biệt về giáo lý giữa gia đình bác sỹ Scott hoàn toàn đã có thể giải quyết qua thương lượng nếu hai bên thực sự chia sẻ nguyên tắc trong I Cô-rinh-tô 6:1-11 và Ma-thi-ơ 18:15-20.  

Thứ Bảy, 13 tháng 9, 2014

Sao các anh dám kiện nhau

Gần đây, tôi đọc một bài viết của luật sư Samuel E. Ericsson viết từ năm 1987 về chủ đề tranh tụng giữa những Cơ Đốc Nhân và tôi muốn chia sẻ một phần bài viết đó với các bạn đọc của blog này. 


Phương pháp giải quyết tranh chấp của đấng Christ được nêu rõ nhất tại I Cô-rinh-tô 6:1-11 và Ma-thi-ơ 18:15-20.  Nhưng thật đáng tiếc, Cơ Đốc Nhân không phải lúc nào cũng tuân thủ theo những hướng dẫn này.  Tôi nhớ lần đầu tiên đọc I Cô-rinh-tô 6:1-11 với tư cách một luật sư.  Sứ đồ Phao-lô trách những Cơ Đốc Nhân ở thành Cô-rinh-tô rằng: "Sao các anh em dám kiện nhau!"  Đối với người kiếm sống bằng nghề kiện tụng, câu nói đó cắt đúng vào tim.  Vì thế tôi kiểm tra kỹ lại xem Phao-lô thực sự có ý gì.  Tôi đã nghiên cứu cả bản tiếng Hy lạp và điều Phao-lô muốn nói đúng là "Sao các anh em dám kiện nhau!"  Quan tâm chính của Phao-lô là thân thể của đấng Christ chính là lời chứng tốt lành cho những người chưa tin. 

Trong câu 7, Phao-lô tiếp lời, "Sao chẳng thà bị đối xử bất công đi? Sao chẳng thà chịu bị lừa gạt đi?" Đối với suy nghĩ luật sư của tôi, từ "bất công" và "lừa gạt" nói đến hai vấn đề thiệt hại hoàn toàn khác nhau.  Một người có thể bị đối xử một cách bất công do sự vô ý của người khác.  Nhưng lừa gạt lại là một hành động có chủ đích.  Do vậy, cho dù do vô ý hay có chủ đích, Phao-lô muốn nói rằng thà chịu thiệt một cách riêng tư còn hơn là hủy hoại danh Đấng Christ trước công chúng. 


Trong Ma-thi-ơ 18:15-20, Chúa Giê-xu đã lập ra nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn cho những Cơ Đốc Nhân.  Bước 1: nói chuyện với người kia một cách riêng tư về vấn đề mâu thuẫn - một người với một người.  Bước 2: nếu cuộc gặp riêng đó không đem lại hòa giải, hãy nói chuyện lại với người đó một lần nữa dưới sự chứng kiến của một hoặc hai nhân chứng có thể làm chứng xác minh sự thật.  Bước 3: nếu buổi gặp thứ hai cũng không đưa đến sự hòa giải, đưa vấn đề này ra trước Hội thánh để cùng giải quyết.  Bước 4: nếu Hội thánh sau khi nghe xong, cũng không hòa giải được, và một người không đồng ý với quyết định của Hội thánh, và chỉ trong trường hợp đó, người đó sẽ bị coi là người ngoại (dứt phép thông công).  Nguyên tắc ở đây là trong tất cả các bước, mục tiêu xuyên suốt là hòa giải giữa các bên.  Hội thánh phải hành động một cách có trách nhiệm, hành xử để bảo vệ tính chính trực của nhiệm vụ mà Chúa đã ủy thác cho chúng ta.  Chỉ có thông qua công việc của Đấng Christ trong Hội thánh mà các mâu thuẫn có thể được giải quyết một cách thành công. 

Vài năm trước, hội thánh mà tôi đi nhóm xây dựng một cơ sở mới trị giá 2,3 triệu USD.  Hội thánh có một hợp đồng "chìa khóa trao tay", có nghĩa là bên nhà thầu xây dựng sẽ có trách nhiệm với tất cả mọi khoản chi phí phát sinh.  Để chốt mức giá này, hội thánh đã thanh toán một khoản tiền đặt cọc khá lớn. 

Trong khi đang thi công, một khoản phí 180.000 USD phát sinh.  Mâu thuẫn nảy sinh, và mục sư tuyên bố với các tín hữu là ban chấp sự sẽ gặp với nhà thầu xây dựng, cũng tự nhận là Cơ Đốc Nhân.  "Nếu chúng ta không giải quyết được việc này," mục sư nói, "có lẽ chúng ta sẽ ra tòa."  Sau thông báo, tôi xin phép trưởng ban chấp sự được tham gia buổi họp với tư cách người quan sát.  Trong buổi họp đó, tôi lắng nghe hơn một tiếng rưỡi hai bên thương thảo về khoản phát sinh 180.000 USD.  Thực tế là hai bên đều đã cố gắng với thiện chí.  Không có dấu hiệu gì về việc cố tình làm trái, nhưng vấn đề 180.000 USD vẫn còn đó.  Cả hai bên đều có cơ sở pháp lý.  Vậy họ nên làm gì? 

Tôi dần nhắc cho mọi người về I Cô-rinh-tô 6:1-11, "Sao các anh em dám kiện nhau!"  Trong vòng một tiếng rưỡi tiếp theo, hội thánh đã đồng ý sẽ trả thêm 70.000 USD, và nhà thầu xây dựng sẽ chịu lỗ 110.000 USD.  Giáo sư dạy tôi ở trường luật chắc hẳn đã tự hào.  Chỉ một tiếng rưỡi đã giải quyết xong một mâu thuẫn mà không cần phải kiện tụng; thật là tuyệt. 

Nhưng công việc của tôi vẫn còn dang dở.  Công việc phân chia đúng sai thì tòa án nào cũng làm được, nhưng thường thì họ mất đến bảy năm để thực hiện.  Hơn nữa, rõ ràng là cả hai bên đều không vui vì bị mất tiền.  Đại diện nhà thầu nói "Cộng sự của tôi và tôi bay từ Michigan đến để ngồi thương lượng mặt đối mặt với các vị vì chúng tôi cũng không muốn phải qua luật sư." 
Tôi hỏi "Chi phí các ông bay đến đây là bao nhiêu?"

"610 USD, 305 USD cho mỗi người," ông ấy nói. 

Tôi rút quyển séc ra và viết một tờ séc 610 USD và đưa cho ông ấy. 

Ông ta hỏi "Cái này để làm gì?"

Tôi trả lời, "Kinh Thánh dạy rằng khi một thành viên của thân thể chịu khổ, tất cả chúng ta cùng chịu khổ.  Các ông vừa chịu lỗ 110.000 USD; hội thánh thì bị mất 70.000 USD.  Việc nhỏ nhất tôi có thể làm là chia sẻ một phần sự mất mát đó với các ông, vì tôi tin rằng các ông đều làm việc có thiện chí." 

Sau khi nghe tôi giải thích, người đại diện của nhà thầu viết tên ông ấy và chuyển lại tờ séc làm tiền dâng hiến cho hội thánh.  Theo tôi, ông ấy vừa mất 110.610 USD, trong đó 110.000 USD để giải quyết tranh chấp và 610 USD để hàn gắn mối quan hệ! 



Sam Ericsson cũng kể lại câu truyện này trong bài giảng tại trường Master's College trong đường link trên đây.  Các bạn có thể nghe lại bài giảng khi có thời gian.  

Luật sư Samuel E. Ericsson

Samuel E. Ericsson tốt nghiệp đại học University of Southern California năm 1966, lấy bằng luật tại Harvard Law School năm 1969.  Khi viết bài báo mà tôi trích dẫn ở trên, Sam Ericsson là luật sư hợp danh của một công ty luật lớn ở Los Angeles, California, Hoa Kỳ chuyên về tranh tụng thương mại.  Ông đồng thời giữ chức Giám đốc Cao cấp của tổ chức luật sư Cơ đốc, Christian Legal Society với 4,500 thành viên.  Trong suốt thập niên 1980, Sam Ericsson viết hơn 50 đơn đề nghị gửi lên Tòa Án Tối Cao Hoa Kỳ về các vấn đề liên quan đến quan hệ chính phủ - hội thánh.  Năm 1991, Sam Ericsson sáng lập tổ chức Advocate International, mạng lưới liên kết luật sư, thẩm phán với hơn 30,000 thành viên trên 150 quốc gia.  Sam Ericsson qua đời năm 2011 sau 11 năm chống trọi với căn bệnh ung thư.  

Thứ Ba, 9 tháng 9, 2014

Tưởng nhớ Truett Cathy

S. Truett Cathy - ngoài cùng bên phải

Cộng đồng Regent cùng với các tín hữu trên khắp mọi nơi chia buồn về sự ra đi của nhà lãnh đạo kiệt xuất và đầy khải tượng S. Truett Cathy, nhà sáng lập chuỗi nhà hàng Chick-fil-A.  Nhà sáng lập, Hiệu trưởng và CEO của Regent, Tiến sĩ M.G. "Pat" Robertson tuyên bố sáng nay khi ông nghe về sự ra đi của Cathy. 

"Thật là vinh hạnh lớn cho tôi được biết Truett Cathy trong nhiều thập kỷ qua và tôi luôn coi ông ấy là một người bạn thân.  Ông ấy là nhà kinh doanh tiên phong kiệt xuất mà đã để lại những dấu ấn về sự phục vụ và sáng tạo, nhưng hơn hết, ông ấy là một người phục vụ khiêm nhường của Đức Chúa Giê-xu Christ," Robertson nói.  "Chúng tôi tại Trường Đại học Regent và CBN đều rất buồn vì sự ra đi của ông ấy và xin gửi đến gia đình lời chia buồn chân thành nhất." 

Cathy khai trương nhà hàng đầu tiên ở tiểu bang Georgia năm 1946.  Chuỗi nhà hàng của ông đã phát triển lên hơn 1,800 nhà hàng ở khắp 39 tiểu bang.  Ông về với Chúa Thứ Hai, Ngày 8 Tháng 9 Năm 2014 ở tuổi 93.    

Ngày hôm nay, các hãng tin lớn ở khắp nước Mỹ và thế giới như Bloomberg, CBS, CBN, CNN, .v.v. đều đưa tin về sự ra đi của Truett Cathy.  Dưới đây là một vài lời từ kênh truyền hình CBN.  


Truett Cathy là một minh chứng khi đặt để Chúa lên trên hết trong mọi việc.  Mục tiêu kinh doanh của Chick-fil-A có viết "... ĐỂ TÔN VINH CHÚA BẰNG CÁCH TRỞ THÀNH MỘT NGƯỜI QUẢN GIA TRUNG TÍN VỚI TẤT CẢ NHỮNG GÌ ĐƯỢC ỦY THÁC CHO CHÚNG TA."  Với công việc kinh doanh nhà hàng ăn, Truett Cathy đặt các nguyên tắc (Principles) và con người (People) lên trên lợi nhuận (Profit).  Từ thuở ban đầu, Chick-fil-A luôn đóng cửa vào ngày Chúa Nhật, việc đó làm giảm doanh thu và lợi nhuận đáng kể nhưng sự thành công của Chick-fil-A là lời chứng rõ ràng nhất cho sự trung tín của ông!  

Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2014

Tất cả những gì bạn cần là Tình yêu của Chúa Giê-xu

Tôi chắc rằng những người hâm mộ dòng nhạc Rock&Roll và ban nhạc The Beetles đã khá quen thuộc với những ca từ sau đây:

There's nothing you can do that can't be done [Không có gì bạn làm được mà lại không được làm]
Nothing you can sing that can't be sung [Không có gì bạn hát được mà lại không được hát]
...
There's nothing you can make that can't be made [Không có gì bạn tạo ra được mà lại không được tạo ra]
No one you can save that can't be saved
[Không có ai bạn cứu được mà lại không được cứu]
...
There's nothing you can know that isn't known [Không có gì bạn hiểu được mà lại không được hiểu]
Nothing you can see that isn't shown [Không có gì bạn nhìn được mà lại không được bày tỏ ra]
...
All you need is love [Tất cả những gì bạn cần là tình yêu]
All you need is love
[Tất cả những gì bạn cần là tình yêu]
All you need is love, love
[Tất cả những gì bạn cần là tình yêu, tình yêu]
Love is all you need
[Tình yêu là tất cả những gì bạn cần]

Đây là lời của bài hát "All You Need Is Love" [tạm dịch "Tất cả những gì bạn cần là tình yêu"] do John Lennon và Paul McCartney của ban nhạc The Beetles sáng tác năm 1967.  Nhiều năm sau đó, trong một cuộc phỏng vấn về nội dung của một số bài hát mang nội dung tuyên truyền, John Lennon không ngần ngại tuyên bố rằng bài hát này là để tuyên truyền những ý tưởng về một thế giới đại đồng.  Việc tôi không đồng ý với nhiều quan điểm của John Lennon theo thế giới quan chủ nghĩa nhân văn sẽ là chủ đề cho một bài viết khác. 

Từ thế giới quan của Kinh Thánh, đúng là nếu có được tình yêu thì chúng ta có được tất cả.  Nhưng đó là tình yêu gì?  Điều quan trọng nhất chúng ta đạt được là gì? 


Tối thứ Năm tuần này, vợ chồng tôi cùng Hội Thánh Messiah dự buổi lễ tưởng niệm cuộc đời của một tín hữu hội thánh, bà Peggy Sweeney (sinh ngày 14 tháng 3 năm 1943, mất ngày 20 tháng 8 năm 2014).  Khi chúng tôi gặp bà Peggy lần đầu vào tháng 1 năm nay, bà vừa mới kinh nghiệm được sự chữa lành của Chúa khi Ngài thực hiện một phép lạ là cắt đi cho bà những cục máu đông trong tĩnh mạch mà không cần phải dùng thuốc hay phẫu thuật.  Lúc đó các bác sỹ đều ngạc nhiên khi nhìn vào phim chụp cắt lớp để chuẩn bị lên phác đồ điều trị thì các cục máu đông đã biến mất.  Nhưng đó cũng là thời điểm mà các bác sỹ phát hiện ra các chỉ số máu của bà Peggy thể hiện bà bị ung thư giai đoạn bốn. 

Kể từ đó, căn bệnh ung thư và những lần trị xạ làm cho sức khỏe của bà Peggy yếu đi rất nhanh.  Vợ chồng chúng tôi, nhóm tế bào và hội thánh cùng gia đình cầu nguyện rất nhiều cho bà, nhưng tất cả chúng tôi đều không hiểu được tại sao Chúa lại không chữa lành cho bà căn bệnh này.  Nếu Chúa có thể làm cho các cục máu đông trong tĩnh mạch biến mất thì Ngài cũng có thể làm cho các tế bào ung thư biến mất.  Cũng tại hội thánh Messiah, có người được Chúa chữa lành căn bệnh ung thư.  Việc Chúa chữa lành bệnh cho người này nhưng không phải người khác, hay chữa lành lúc này nhưng không phải lúc khác làm cho con người chúng ta thật khó hiểu. 

Hai tuần trước khi về với Chúa, khi đang phải chiến đấu với căn bệnh ung thư, bà Peggy đến dự buổi lễ sáng Chúa Nhật lần cuối cùng với hội thánh Messiah, bà đứng lên chia sẻ "Qua mọi điều này, tôi nhận ra rằng chỉ cần Chúa Giê-xu là đủ[1]".  Câu nói này của bà Peggy là một lời chứng mạnh mẽ về cuộc đời của một người có Chúa Giê-xu làm chủ.  Chúng ta cũng được nhắc nhở bởi chính lời của Chúa Giê-xu khi Ngài cầu nguyện trước khi bị bắt và bị đóng đinh "Cha ơi, nếu Cha muốn, xin cất chén này khỏi con; nhưng không theo ý con, mà nguyện theo ý Cha[2]."  Trong cuộc đời, có nhiều việc xảy ra với chúng ta mà chúng ta không giải thích được, nhưng cuộc sống của chúng ta có niềm hy vọng, đức tin đặt vào nơi Chúa. 

Dưới đây là vài dòng trong bài điếu văn của bà Peggy Sweeney. 

               Peggy kết hôn với Tom Sweeney năm 1987 tại Richmond, Va., và họ đã sống một hôn nhân hạnh phúc suốt 27 năm.  Peggy là một tín hữu trung tín và yêu thương của hội thánh Messiah.  Bà sống một cuộc sống Cơ đốc giản dị và biết những điều quan trọng trong cuộc sống là gì.  Bà là một người mẹ yêu thương và tận hiến của mười người con và là định nghĩa "Gấu Mẹ" khi phải đứng ra bảo vệ chúng.[3] 

Được biết bà Peggy và gần gũi với bà trong những tháng ngày cuối của bà ở trên đất, thật là phước hạnh lớn với chúng tôi khi được bà nhận làm con cháu trong gia đình.  Cuộc sống của bà là một lời chứng mạnh mẽ rằng "tất cả những gì bạn cần là tình yêu của Chúa Giê-xu."



[1] "After all this, I know that Jesus is enough"
[2] Father, if you are willing, take this cup from me; yet not my will, but yours be done. Luke 22:42 NIV
[3] Peggy married Tom Sweeney in 1987 in Richmond, Va., and they were happily married for 27 years.  Peggy was a faithful and well-loved member of Church of the Messiah.  She lived a simple Christian life and knew what the important things in life were.  She was a loving and devoted mother to her ten children and was the definition of "Momma Bear" when it came to protecting them.  

Thứ Bảy, 23 tháng 8, 2014

Người dâng nhiều nhất

"Quả thật, Ta nói với các ngươi, bà góa nghèo nầy đã bỏ vào thùng tiền dâng nhiều hơn những người khác" Lu-ca 21:3



Một ngày kia khi Chúa Giê-xu ngồi trong đền thờ và thấy một người đàn bà góa bỏ vào hòm dâng hiến hai đồng xu[1] và Ngài nói với những người xung quanh rằng bà góa này dâng nhiều hơn tất cả những người khác.  Ngay lúc đó, Chúa Giê-xu giải thích cho các môn đồ rằng mọi người chỉ dâng cho Đức Chúa Trời phần mình có dư, nhưng người đàn bà này đã dâng tất cả những gì mình có! 

Phép toán trong Nước Đức Chúa Trời quả thật không giống với cách mà thế gian nhìn nhận.  Có một ví dụ thú vị mà các triết gia đã mất rất nhiều công sức và giấy mực là để phân định xem một cái cốc là "cạn một nửa" hay "đầy một nửa".  Người bi quan (pessimist) cho rằng cái cốc đã cạn một nửa và họ luôn lo lắng rằng cái cốc sẽ tiếp tục cạn hơn nữa.  Người lạc quan (optimist) cho rằng cái cốc đã được đầy một nửa vì họ hy vọng rằng cái cốc sẽ được đổ thêm cho đầy hơn.  Quan điểm hay thế giới quan là điều khó thay đổi vì nó chính là lăng kính mà chúng ta qua đó nhìn mọi sự vật, sự kiện xảy ra xung quanh.  Cái cốc trong mắt người bi quan sẽ không bao giờ đầy và cái cốc trong mắt người lạc quan sẽ không bao giờ cạn. 


Quay trở lại câu truyện về người đàn bà góa được Lu-ca ghi chép lại, liệu bà ấy là người bi quan hay lạc quan?  Khi chúng ta nhìn vào câu truyện về những con người có thật và sự kiện thực sự xảy ra, các lý luận triết học trở nên nông cạn và quá đơn giản.  Khi giảng dạy trên đất, Chúa Giê-xu rất hay dùng các hình ảnh ẩn dụ để chia sẻ về Nước Đức Chúa Trời, nhưng cũng có đôi lúc, Ngài sử dụng một câu truyện có thực để giải thích cho người nghe về những giá trị trong Nước Đức Chúa Trời, và đây là một câu truyện thực tế đã xảy ra.  Trong xã hội Do Thái đầu Công Nguyên, phụ nữ góa bụa là những người khó khăn nhất vì họ mất đi người chồng.  Trong xã hội đó, người chồng là trụ cột về kinh tế, thuộc linh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về bất cứ vi phạm nào do vợ hoặc con cái gây ra.  Khi người chồng mất đi, tất cả những nghĩa vụ đó sẽ đổ lên đầu người vợ góa.  Hơn nữa, số tiền bà góa này dâng cũng là số tiền rất nhỏ, vì lepta là đồng tiền có mệnh giá thấp nhất trong bảng tiền tệ của Hy Lạp Cổ đại. 

Khi nhìn vào cái cốc đang đầy hay vơi, dù với thế giới quan nào đi chăng nữa thì một người cũng sẽ phải đưa ra một so sánh.  Người bi quan thì dùng thước đo "cạn" để so sánh trong khi người lạc quan dùng thước đo "đầy" để so sánh.  Nhưng toán học và triết học trong Nước Đức Chúa Trời thì không sử dụng thước đo thông thường để so sánh.  Đức Chúa Trời nhìn vào tấm lòng của con người! 

Để minh họa, tôi muốn chia sẻ với các bạn về bà Lee, một tấm gương trong sự dâng hiến mà tôi được gặp nhờ sự dẫn đưa của Chúa Thánh Linh. 

Bà Lee sinh năm 1942 tại bán đảo Triều Tiên trong thời Đế Quốc Nhật Bản chiếm đóng.  Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt bởi chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), bà Lee quyết định tìm con đường thoát thân để tìm một tương lai tươi sáng hơn.  Năm 1968, khi 26 tuổi, bà Lee học xong chứng chỉ y tá ở Hàn Quốc và được sang New York, Mỹ theo diện xuất khẩu lao động với nghề y tá.  Ngay khi đến Mỹ, bà tìm đến nhà thờ mặc dù chưa tin Chúa vì đó là nơi cộng đồng người Hàn Quốc nhóm họp và chia sẻ, giúp đỡ nhau, nhưng cũng tại đó mà bà gặp Chúa.  Sau khi kết hôn, bà Lee và chồng tiếp tục làm việc một cách cần mẫn nhưng công việc của họ có nhiều vất vả. 

Năm 1977, gia đình họ mua một căn nhà nhỏ ở Staten Island, New York.  Một thời gian ngắn sau, hai vợ chồng bà Lee quyết định vay một khoản tiền lớn để mua lại một tiệm giặt là.  Như nhiều gia đình nhập cư khác, họ làm việc từ 12-14 giờ mỗi ngày.  Bà Lee vừa phụ giúp công việc của cửa hàng, vừa chăm sóc hai con nhỏ.  Bà Lee kể lại, hàng ngày, sau khi cho các con ăn, giúp con học bài rồi đi ngủ, bà Lee lại xuống tầng hầm để làm một số việc may vá theo đơn của khách tại tiệm giặt.  Với bà, khoảng thời gian từ 9 giờ tối đến 1 giờ đêm là thời gian phước hạnh vì bà được tĩnh lặng trước Chúa, bà thường nghe các bài giảng của Tiến sĩ James Dobson qua chương trình Focus on the Family[2] trong lúc làm việc. 

Đầu những năm 1980, Tiến sĩ Dobson có bài phỏng vấn Tiến sĩ David A. Noeble và qua đó giới thiệu về Summit Ministries, chương trình trại hè mà Tiến sĩ Noeble đã phát triển để chuẩn bị cho giới trẻ về thế giới quan của Cơ Đốc Giáo.  Ngay sau khi nghe bài giới thiệu về Tiến sĩ Noeble và Summit Ministries, bà Lee quyết định đăng ký cho cô con gái lớn theo học tại Summit Ministries, rồi tiếp sau đó là cậu con trai.  Được Chúa cảm động và qua những ảnh hưởng nhìn thấy được qua con cái mình, bà Lee bắt đầu đi vận động và chia sẻ với các gia đình trong hội thánh của mình.  Một thời gian ngắn sau, các thanh thiếu niên trong hội thánh mà gia đình bà nhóm đều hoàn thành khóa học của Summit Ministries.  Trong các năm tiếp theo, bà Lee kiên trì đi đến các hội thánh có đông tín đồ là người Hàn Quốc ở các khu vực quanh New York để giới thiệu về Summit Ministries. 

Năm 1996, bà Lee chính thức thành lập quỹ học bổng Korean Scholarship for the Summit Ministries ("KSSM") để hỗ trợ cho các học sinh có hoàn cảnh khó khăn muốn tham dự Summit Ministries.  Từ năm 2006, quỹ học bổng KSSM mở rộng và cấp cả học bổng cho thanh thiếu niên học tập và sinh sống ở Hàn Quốc đến học tại Summit Ministries.  Đến nay, quỹ học bổng KSSM đã cấp học bổng cho khoảng 140 thanh thiếu niên đến từ New York, Hàn Quốc, Việt Nam, Nam Phi và nhiều nơi trên khắp thế giới học tại Summit Ministries. 

Mùa hè 2014 vừa qua, khi vợ chồng tôi đến thăm, bà Lee và chồng đã nghỉ không còn làm tiệm giặt là nhưng họ vẫn sống ở ngôi nhà nhỏ ở Staten Island, và căn nhà dường như không thay đổi gì từ khi mua năm 1977.  Chúng tôi không khỏi ngạc nhiên vì những điều kỳ diệu và lớn lao mà Đức Chúa Trời đã làm thông qua người phụ nữ nhỏ bé này.  Qua sự dâng hiến và tận tâm của bà Lee, KSSM đã được xây dựng và phát triển, và KSSM sẽ tiếp tục thay đổi cuộc sống của nhiều người.  Sự dâng hiến ban đầu của bà Lee và gia đình cho KSSM không thể đong đếm được bằng tiền vì những giá trị mà nó để lại là vô giá.  Cũng giống như người đàn bà góa được Chúa Giê-xu nhắc đến trong phúc âm Lu-ca, tấm lòng của bà Lee khi dâng hiến không đặt trọng tâm vào mình mà đặt vào Chúa, vào công việc mà Ngài kêu gọi.

Chúa đang kêu gọi bạn dâng gì cho Ngài?  Bạn có sẵn sàng dâng mình làm công cụ hữu ích trong tay Chúa không? 




[1] Trong bản Tiếng Hy Lạp sử dụng từ "lepta" (λεπτά): đồng tiền có mệnh giá thấp nhất trong hệ thống tiền tệ Hy Lạp Cổ đại.  Trong thời cận đại, Hy Lạp có đúc ra tiền xu lepta này với mệnh giá thấp nhất là 5 lepta. 
[2] tạm dịch là "Tập trung vào Gia đình"