Hiển thị các bài đăng có nhãn Phao-lô. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phao-lô. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2014

Mục đích cuộc đời

TGIF - Today God is First[1] - Os Hillman

"Chúa phán 'Vì Ta biết rõ các chương trình Ta sẽ làm cho các ngươi, đó là các chương trình làm cho các ngươi được bình an thịnh vượng chứ không phải bị tổn hại, hầu ban cho các ngươi một hy vọng và một tương lai.'"  Giê-rê-mi 29:11

Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời, bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm. Thi-Thiên 19:1

Với nhiều người trên thế giới này, ý nghĩa thực sự của cuộc đời là kỳ nghỉ tiếp theo, thành công trong sự nghiệp, hoặc được tăng lương.  Đây là đời sống dựa trên những trải nghiệm của sự hoan lạc.  Rất nhiều người đã cố gắng cả cuộc đời để tìm kiếm một lối sống hoan lạc chỉ để cuối cùng nhận ra rằng cuộc sống đó hoàn toàn trống rỗng và vô nghĩa.  Bạn chỉ cần xem ti-vi một buổi tối để có thể nhận ra rằng các nhà quảng cáo muốn chúng ta tin vào mục đích sống này.  Chủ đề làm việc để chơi này là đề tài xuyên suốt các thông điệp quảng cáo. 

Sa-lô-môn là người đã nếm trải mọi hương vị cuộc sống.  Ông là nhà kiến thiết vĩ đại, doanh nhân vĩ đại, và là người tình tuyệt vời của phụ nữ.  Ông ấy có mọi sự hoan lạc mà con người có thể tưởng tượng ra.  Vậy nhưng, ông ấy kết luận rằng tất cả những thứ này không thể thỏa mãn được linh hồn của con người. 

Trong một chuyến đi gần đây đến một hòn đảo tuyệt đẹp đã giúp tôi cảm tạ Chúa vì Ngài đã cho tôi hiểu về cái bẫy của lối sống làm việc để chơi.  Những trải nghiệm sẽ rất tuyệt vời và sảng khoái khi đến thăm những địa danh đẹp nếu bạn không bị rơi vào cái bẫy suy nghĩ rằng những trải nghiệm này chính là một cuộc sống đầy ý nghĩa.  Những tạo vật tuyệt đẹp của Đức Chúa Trời có thể dễ dàng trở thành nhà tù của sự trống rỗng nếu Chúa Giê-xu không phải là trung tâm.  Sứ đồ Phao-lô nói rằng chỉ có một cách để tìm ra ý nghĩa và mục đích của cuộc sống:

"Tôi cầu xin Ðức Chúa Trời, Cha vinh hiển của Ðức Chúa Giê-xu, Chúa chúng ta, ban cho anh chị em linh của sự khôn ngoan và sự mặc khải để nhận biết Ngài.  Tôi cũng cầu xin cho con mắt của lòng anh chị em được khai sáng, để anh chị em có thể nhận biết hy vọng Ngài đã kêu gọi anh chị em là gì, sự giàu có của cơ nghiệp vinh hiển đang dành cho các thánh đồ là thể nào, và sự lớn lao vô lượng của quyền năng Ngài dành cho chúng ta, những người tin nhận..." (Ê-phê-sô 1:17-19)

Nhận biết Đấng Christ sẽ đem lại ý nghĩa và mục đích thực sự cho linh hồn con người.  Hãy dành thời gian ngày hôm nay để nhận biết Chúa theo cách gần gũi hơn.  Sau đó, bạn sẽ nhận ra ý nghĩa và mục đích thật sự của cuộc đời. 

-----
Os Hillman là chủ tịch tổ chức Lãnh đạo nơi Thương trường, tổ chức với mục đích giúp đỡ các tín hữu khám phá và hoàn thành những mục đích của Đức Chúa Trời qua mục vụ trong công việc hàng ngày.



Os Hillman




[1] Mục vụ "Ngày hôm nay, Chúa là đầu"

Thứ Năm, 9 tháng 10, 2014

Giúp đỡ kẻ yếu

"Chúng ta phải giúp đỡ những người yếu, do đó chúng ta phải làm việc vất vả như thế" Công vụ 20:35


Thời gian gần đây, khi vợ chồng tôi đọc đến cuối sách Công vụ, chúng tôi được nhắc nhở về cuộc gặp gỡ giữa Sứ đồ Phao-lô và các trưởng lão của các hội thánh trên khắp miền A-si-a (ngày nay là Thổ Nhĩ Kỳ).  Trong những năm trước đó, Phao-lô đã bỏ rất nhiều thời gian truyền giáo trên toàn miền A-si-a, thành lập hội thánh, thiết lập trưởng lão và mục sư để chăm sóc các hội thánh đó.  Đến cuối chuyến đi truyền giáo thứ 3 của mình, Phao-lô được Đức Thánh Linh mách bảo quay về Giê-ru-sa-lem để chịu bắt bớ vì danh Đấng Christ.  Khi biết đây là lần cuối mình được gặp những người mà bấy lâu ông chăm sóc, giảng dạy, Phao-lô căn dặn lại họ những điều quan trọng nhất: "Chúng ta phải giúp đỡ những người yếu, do đó chúng ta phải làm việc vất vả như thế." 

Bà Carol Cymbala hướng dẫn dàn hợp xướng 280 giọng của hội thánh Brooklyn Tabernacle trong buổi thờ phượng

Trước Phao-lô, Chúa Giê-xu cũng giảng dạy rằng xung quanh chúng ta sẽ luôn có những người góa bụa, trẻ mồ côi và những người yếu, không có khả năng bảo vệ mình.  Trong thế giới Cơ đốc giáo ngày nay, có nhiều hội thánh và tổ chức từ thiện đứng vào vai trò chăm lo cho người yếu, nhưng hội thánh Brooklyn Tabernacle ở tại địa chỉ 17 Smith Street, quận Brooklyn, thành phố New York, là một hội thánh vô cùng đặc biệt. 

Mục sư Jim Cymbala và vợ

Hơn 40 năm trước, mục sư James "Jim" R. Cymbala cùng vợ đến gây dựng một hội thánh ở quận Brooklyn đổ nát.  Từ khi hội thánh Brooklyn Tabernacle được thành lập chỉ với 20 tín đồ, mục sư Jim Cymbala đã có khải tượng đây sẽ là hội thánh duy trì sự cân bằng giữa giảng dạy (preaching) và cầu nguyện (praying).  Trong một bài trả lời phỏng vấn gần đây với đài truyền hình CBN, giới thiệu về cuốn sách mới của mình, mục sư Jim Cymbala nhấn mạnh lại trong suốt 40 năm trong mục vụ, ông chưa bao giờ quên tình yêu ban đầu đó. 


Từ giữa những năm 1970, bà Carol Cymbala, vợ của mục sư Jim Cymbala được Chúa đặt để một tấm lòng gây dựng một dàn hợp xướng để tôn vinh Chúa.  Dàn hợp xướng đầu tiên được thành lập với 9 giọng hát.  Sau bốn thập kỷ, dàn hợp xướng của Brooklyn Tabernacle đã đạt được 6 giải Grammy danh giá, phát hành hàng chục đĩa CD, được mời hát tôn vinh Chúa trong các buổi truyền giảng của mục sư Billy Graham, và gần đây nhất là buổi lễ tuyên thệ nhậm chức của Tổng thống Barrack Obama khi ông tái đắc cử nhiệm kỳ 2 năm 2013. 

Nhưng đúng như lời của mục sư Jim Cymbala, hội thánh đã không để những thành công làm lay động tình yêu ban đầu.  Trong dàn hợp xướng 280 giọng của Brooklyn Tabernacle ngày nay, có người là luật sư, có người trước đây vô gia cư và có người trước đây nghiện ma túy và gái mại dâm!  Ngay cả khi hội thánh phát triển đến hơn 16,000 tín đồ, một trong những hội thánh lớn nhất ở Hoa Kỳ, mục sư Jim Cymbala vẫn dành thời gian chăm sóc cho những người thực sự yếu đuối, những người ở bên lề xã hội, những người vô gia cư, những người nghiện ma túy, tù nhân và gái mại dâm.  Khi dàn hợp xướng này cất tiếng, các bản nhạc tôn vinh Chúa như được viết lên từ những mảnh đời được biến đổi của chính những giọng ca này.  Sự đa dạng và đời sống biến đổi chính là phép lạ mà Chúa đang làm qua mục vụ của một hội thánh phục vụ kẻ yếu. 

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014

Thân thể Đấng Christ

"Anh chị em là thân thể của Ðấng Christ và mỗi người là một chi thể" I Cô-rinh-tô 12:27


Trong thư tín gửi cho hội thánh ở Cô-rinh-tô, Phao-lô liên hệ hình ảnh về hội thánh toàn cầu là thân thể của Đấng Christ và mỗi cá nhân là một chi thể.  Trong các thư tín của mình, Phao-lô chỉ dùng chữ "hội thánh" ("ἐκκλησία" - phiên âm tiếng Anh là ecclesia) chứ không có chữ "nhà thờ".  Chữ ecclesia có nghĩa là hội đồng những người thánh, nói ngắn gọn là hội thánh.  Còn chữ "nhà thờ" (church) là chỉ về một công trình kiến trúc hữu hình, là khái niệm chỉ được các giáo hội sau này sử dụng.  

Tháp Ba-bên, công trình trọc trời đầu tiên của loài người

Trong thời kỳ đầu của lịch sử loài người, sau khi con người hư mất vì tội lỗi, bản thân con người cũng có ước muốn được quay trở lại với Đức Chúa Trời.  Và bằng sức riêng của mình, họ xây tháp Ba-bên với kỳ vọng là sẽ xây cao đến trời!  Nhưng chúng ta đều biết kết cục là dự án tháp Ba-bên hoàn toàn thất bại.  Sau tháp Ba-bên, Kim Tự Tháp Giza ở Ai Cập thống lĩnh ở vị trí công trình cao nhất thế giới suốt 3800 năm cho đến kỷ nguyên Cơ Đốc Giáo phục hưng ở Châu Âu.  Năm 1311, Nhà Thờ Lớn Lincoln (tên khác là Nhà Thờ Lớn Thánh Mary) ở Anh Quốc đoạt ngôi công trình cao nhất thế giới từ Giza và giữ vững danh hiệu này trong suốt 238 năm.  Trong suốt 600 năm tiếp theo, các thành phố lớn ở khắp Châu Âu, từ Anh đến Pháp, Đức đều đua nhau xây dựng những nhà thờ cao hơn, đẹp hơn và cầu kỳ hơn.  Nhà thờ cuối cùng được công nhận là công trình kiến trúc cao nhất thế giới là Ulm Minister ở vùng Bavaria, nước Đức, nóc nhà của thế giới từ khi khánh thành năm 1890 đến khi kỷ lục bị phá vỡ năm 1901.  Thế kỷ 20 cũng đặt dấu chấm hết cho cuộc đua của các nhà thờ trở thành công trình kiến trúc vĩ đại. 

Nhà thờ lớn Pha lê được ghép hoàn toàn bằng các tấm kính và giàn khung thép

Mặc dù cuộc đua của những ngôi nhà thờ trọc trời dường như đã dừng lại, nhưng các ngôi nhà thờ lộng lẫy, xa hoa vẫn không ngừng mọc lên.  Gần đây, tôi có dịp đến Nhà Thờ Ba Ngôi (Trinity Church) ở phố Wall, Manhattan, New York, một ngôi nhà thờ cổ kính xây bằng đá đỏ từ thế kỷ 18 nằm ở khu phố nhộn nhịp nhất thế giới này được tờ tạp chí tài chính hàng đầu, Thời báo New York (New York Times) định giá bất động sản lên đến hơn 42,000 tỷ đồng (2 tỷ USD) theo thời giá năm 2013.  Cũng theo Thời báo New York, nhà thờ này đang bị chia rẽ vì họ không biết nên làm gì với số tài sản khổng lồ họ có.  Trong lúc chưa quyết định được, họ đồng ý nâng lương cho mục sư chủ tọa từ 9 tỷ đồng (475.000 USD) lên 30 tỷ đồng (1.500.000 USD) mỗi năm và tặng cho ông ấy căn nhà trị giá 120 tỷ đồng (5.500.000 USD) do lạm phát!  Nhà Thờ Công Giáo Đấng Christ là Ánh Sáng ở Oakland, CA từ năm 2008 xây dựng cơ sở mới trị giá 2,700 tỷ đồng (130 triệu USD).  Nhà Thờ Baptist Thứ Nhất Dallas ở Dallas, TX cũng đang gây quỹ xây dựng 2,700 tỷ đồng (130 triệu USD) cho một điểm nhóm mới.  Nhà Thờ Lakewood ở Houston, TX cũng mới bỏ ra 1,500 tỷ đồng (75 triệu USD) cho việc... sửa sang.  Gần đây nhất là Nhà Thờ Cảm Hứng Thân Thể Đấng Christ ở Dallas, TX đầu tư một bể cá cảnh nước mặn[1] trị giá hơn 800 tỷ đồng (40 triệu USD).  Câu truyện đáng buồn nhất là Nhà Thờ Lớn Pha Lê ở Quận Cam, CA phải tuyên bố phá sản năm 2010 vì khoản nợ hơn 1,000 tỷ đồng (50 triệu USD), và phần lớn số nợ đó phát sinh từ chi phí xây dựng ngôi nhà thờ gần 3,000 chỗ ngồi toàn bộ bằng kính trang lệ này. 

Mục sư John Yates giảng tại Hội thánh Anh Giáo Falls Church

Trong khi đó, hội thánh Anh Giáo Falls Church, một hội thánh có hơn 4,000 tín đồ ở thành phố Falls Church bang Virginia, quyết định bỏ lại ngôi nhà thờ được xây dựng tuyệt đẹp từ thế kỷ 18 của họ vì sự sụp đổ về giáo lý của Anh Giáo Hoa Kỳ (Episcopal).  Hội thánh Anh Giáo Falls Church là một trong hơn 1,000 hội thánh Anh Giáo Hoa Kỳ đã quyết định rời bỏ giáo hội vì sự suy đồi của giáo hội và cái giá họ phải trả là mất địa điểm nhóm.  Khi quyết định rời bỏ giáo hội Anh Giáo Hoa Kỳ, hội thánh Anh Giáo Falls Church bàn giao lại toàn bộ tài sản gồm đất đai và toàn bộ tài sản khác.  Sau khi rời khỏi ngôi nhà thờ cũ, mục sư John Yates có khải tượng về xây dựng các hội thánh con (daughter churches) thay vì tập trung tại một hội thánh lớn để phát triển. 

Vợ chồng tôi có dịp đến nhóm tại Hội thánh Anh Giáo Phục Hồi (Restoration Anglican Church), một hội thánh con được thành lập với 70 tín hữu, trong 5 năm đã phát triển thành hơn 400 tín hữu!  Thậm chí địa điểm mà ban đầu họ thuê của một hội thánh Baptist đã được họ mua lại và xây dựng mở rộng vì hội thánh Baptist đó không còn đủ tín hữu để duy trì hoạt động và địa điểm đó quá nhỏ cho mục đích phát triển.  Hội thánh Anh Giáo Phục Hồi là một trong 6 hội thánh con phát triển ra từ Hội thánh Anh Giáo Falls Church. 

Hội thánh (ἐκκλησία - ecclesia) chính là trọng tâm của sứ điệp cứu rỗi.  Việc xây dựng hội thánh, hay chính là gây dựng những anh chị em trong thân thể Đấng Christ mới là mục đích sống quan trọng của mỗi Cơ Đốc Nhân.  Đúng là chúng ta cần có địa điểm để nhóm họp, thờ phượng Chúa và chia sẻ đời sống với nhau, nhưng khi việc xây dựng nhà thờ không bao giờ có thể được ưu tiên hơn việc xây dựng hội thánh.  




[1] Dallas là thành phố nằm sâu trong lục địa bang Texas, vùng biển gần nhất cũng phải 5-6 tiếng lái xe.  Việc đầu tư bể cá nước mặn được ông mục sư chủ tọa chia sẻ là được cảm hứng từ hình ảnh Chúa Giê-xu kêu gọi các môn đồ trở thành tay đánh lưới người!  

Thứ Bảy, 13 tháng 9, 2014

Sao các anh dám kiện nhau

Gần đây, tôi đọc một bài viết của luật sư Samuel E. Ericsson viết từ năm 1987 về chủ đề tranh tụng giữa những Cơ Đốc Nhân và tôi muốn chia sẻ một phần bài viết đó với các bạn đọc của blog này. 


Phương pháp giải quyết tranh chấp của đấng Christ được nêu rõ nhất tại I Cô-rinh-tô 6:1-11 và Ma-thi-ơ 18:15-20.  Nhưng thật đáng tiếc, Cơ Đốc Nhân không phải lúc nào cũng tuân thủ theo những hướng dẫn này.  Tôi nhớ lần đầu tiên đọc I Cô-rinh-tô 6:1-11 với tư cách một luật sư.  Sứ đồ Phao-lô trách những Cơ Đốc Nhân ở thành Cô-rinh-tô rằng: "Sao các anh em dám kiện nhau!"  Đối với người kiếm sống bằng nghề kiện tụng, câu nói đó cắt đúng vào tim.  Vì thế tôi kiểm tra kỹ lại xem Phao-lô thực sự có ý gì.  Tôi đã nghiên cứu cả bản tiếng Hy lạp và điều Phao-lô muốn nói đúng là "Sao các anh em dám kiện nhau!"  Quan tâm chính của Phao-lô là thân thể của đấng Christ chính là lời chứng tốt lành cho những người chưa tin. 

Trong câu 7, Phao-lô tiếp lời, "Sao chẳng thà bị đối xử bất công đi? Sao chẳng thà chịu bị lừa gạt đi?" Đối với suy nghĩ luật sư của tôi, từ "bất công" và "lừa gạt" nói đến hai vấn đề thiệt hại hoàn toàn khác nhau.  Một người có thể bị đối xử một cách bất công do sự vô ý của người khác.  Nhưng lừa gạt lại là một hành động có chủ đích.  Do vậy, cho dù do vô ý hay có chủ đích, Phao-lô muốn nói rằng thà chịu thiệt một cách riêng tư còn hơn là hủy hoại danh Đấng Christ trước công chúng. 


Trong Ma-thi-ơ 18:15-20, Chúa Giê-xu đã lập ra nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn cho những Cơ Đốc Nhân.  Bước 1: nói chuyện với người kia một cách riêng tư về vấn đề mâu thuẫn - một người với một người.  Bước 2: nếu cuộc gặp riêng đó không đem lại hòa giải, hãy nói chuyện lại với người đó một lần nữa dưới sự chứng kiến của một hoặc hai nhân chứng có thể làm chứng xác minh sự thật.  Bước 3: nếu buổi gặp thứ hai cũng không đưa đến sự hòa giải, đưa vấn đề này ra trước Hội thánh để cùng giải quyết.  Bước 4: nếu Hội thánh sau khi nghe xong, cũng không hòa giải được, và một người không đồng ý với quyết định của Hội thánh, và chỉ trong trường hợp đó, người đó sẽ bị coi là người ngoại (dứt phép thông công).  Nguyên tắc ở đây là trong tất cả các bước, mục tiêu xuyên suốt là hòa giải giữa các bên.  Hội thánh phải hành động một cách có trách nhiệm, hành xử để bảo vệ tính chính trực của nhiệm vụ mà Chúa đã ủy thác cho chúng ta.  Chỉ có thông qua công việc của Đấng Christ trong Hội thánh mà các mâu thuẫn có thể được giải quyết một cách thành công. 

Vài năm trước, hội thánh mà tôi đi nhóm xây dựng một cơ sở mới trị giá 2,3 triệu USD.  Hội thánh có một hợp đồng "chìa khóa trao tay", có nghĩa là bên nhà thầu xây dựng sẽ có trách nhiệm với tất cả mọi khoản chi phí phát sinh.  Để chốt mức giá này, hội thánh đã thanh toán một khoản tiền đặt cọc khá lớn. 

Trong khi đang thi công, một khoản phí 180.000 USD phát sinh.  Mâu thuẫn nảy sinh, và mục sư tuyên bố với các tín hữu là ban chấp sự sẽ gặp với nhà thầu xây dựng, cũng tự nhận là Cơ Đốc Nhân.  "Nếu chúng ta không giải quyết được việc này," mục sư nói, "có lẽ chúng ta sẽ ra tòa."  Sau thông báo, tôi xin phép trưởng ban chấp sự được tham gia buổi họp với tư cách người quan sát.  Trong buổi họp đó, tôi lắng nghe hơn một tiếng rưỡi hai bên thương thảo về khoản phát sinh 180.000 USD.  Thực tế là hai bên đều đã cố gắng với thiện chí.  Không có dấu hiệu gì về việc cố tình làm trái, nhưng vấn đề 180.000 USD vẫn còn đó.  Cả hai bên đều có cơ sở pháp lý.  Vậy họ nên làm gì? 

Tôi dần nhắc cho mọi người về I Cô-rinh-tô 6:1-11, "Sao các anh em dám kiện nhau!"  Trong vòng một tiếng rưỡi tiếp theo, hội thánh đã đồng ý sẽ trả thêm 70.000 USD, và nhà thầu xây dựng sẽ chịu lỗ 110.000 USD.  Giáo sư dạy tôi ở trường luật chắc hẳn đã tự hào.  Chỉ một tiếng rưỡi đã giải quyết xong một mâu thuẫn mà không cần phải kiện tụng; thật là tuyệt. 

Nhưng công việc của tôi vẫn còn dang dở.  Công việc phân chia đúng sai thì tòa án nào cũng làm được, nhưng thường thì họ mất đến bảy năm để thực hiện.  Hơn nữa, rõ ràng là cả hai bên đều không vui vì bị mất tiền.  Đại diện nhà thầu nói "Cộng sự của tôi và tôi bay từ Michigan đến để ngồi thương lượng mặt đối mặt với các vị vì chúng tôi cũng không muốn phải qua luật sư." 
Tôi hỏi "Chi phí các ông bay đến đây là bao nhiêu?"

"610 USD, 305 USD cho mỗi người," ông ấy nói. 

Tôi rút quyển séc ra và viết một tờ séc 610 USD và đưa cho ông ấy. 

Ông ta hỏi "Cái này để làm gì?"

Tôi trả lời, "Kinh Thánh dạy rằng khi một thành viên của thân thể chịu khổ, tất cả chúng ta cùng chịu khổ.  Các ông vừa chịu lỗ 110.000 USD; hội thánh thì bị mất 70.000 USD.  Việc nhỏ nhất tôi có thể làm là chia sẻ một phần sự mất mát đó với các ông, vì tôi tin rằng các ông đều làm việc có thiện chí." 

Sau khi nghe tôi giải thích, người đại diện của nhà thầu viết tên ông ấy và chuyển lại tờ séc làm tiền dâng hiến cho hội thánh.  Theo tôi, ông ấy vừa mất 110.610 USD, trong đó 110.000 USD để giải quyết tranh chấp và 610 USD để hàn gắn mối quan hệ! 



Sam Ericsson cũng kể lại câu truyện này trong bài giảng tại trường Master's College trong đường link trên đây.  Các bạn có thể nghe lại bài giảng khi có thời gian.  

Luật sư Samuel E. Ericsson

Samuel E. Ericsson tốt nghiệp đại học University of Southern California năm 1966, lấy bằng luật tại Harvard Law School năm 1969.  Khi viết bài báo mà tôi trích dẫn ở trên, Sam Ericsson là luật sư hợp danh của một công ty luật lớn ở Los Angeles, California, Hoa Kỳ chuyên về tranh tụng thương mại.  Ông đồng thời giữ chức Giám đốc Cao cấp của tổ chức luật sư Cơ đốc, Christian Legal Society với 4,500 thành viên.  Trong suốt thập niên 1980, Sam Ericsson viết hơn 50 đơn đề nghị gửi lên Tòa Án Tối Cao Hoa Kỳ về các vấn đề liên quan đến quan hệ chính phủ - hội thánh.  Năm 1991, Sam Ericsson sáng lập tổ chức Advocate International, mạng lưới liên kết luật sư, thẩm phán với hơn 30,000 thành viên trên 150 quốc gia.  Sam Ericsson qua đời năm 2011 sau 11 năm chống trọi với căn bệnh ung thư.  

Thứ Ba, 17 tháng 6, 2014

Tấm lá chắn

 "Ngài là tấm lá chắn cho những kẻ nào nương náu mình nơi Ngài." Thi Thiên 18:30b


Sau khi xem phần 2 phim Đại Úy Mỹ - Chiến Binh Mùa Đông, tôi được nhắc nhở về một vật thật gần gũi với nhân vật này, đó là tầm lá chắn của Đại Úy Mỹ.  Khi tìm hiểu lịch sử chiến tranh nhân loại, các nhà chiến lược luôn có hai lựa chọn là tấn công hoặc phòng vệ.  Các loại vũ khí được phát minh, phát triển và nâng cấp cũng chỉ để phục vụ cho một trong hai mục đích, vũ khi tấn công hoặc vũ khí phòng vệ.  Trong ngành công nghiệp vũ khí, có lẽ, vũ khí phòng vệ ít được chú trọng hơn, và tấm lá chắn là loại vũ khí thô sơ, ít được nâng cấp phát triển.  Thật thú vị khi những nhà viết truyện tranh của Marvel tạo ra một nhân vật chiến binh mà vũ khí chiến đấu duy nhất của anh ta là tấm lá chắn. 

Trước hết chúng ta biết tấm lá chắn của Đại Úy Mỹ được làm từ một loại hợp kim chịu được sức tấn công vô hạn.  Búa thần của Thor hay nguồn năng lượng của Người Sắt cũng không hề làm tấm lá chắn này mảy may.  Có thể nói, tấm lá chắn thô sơ, kết cấu giản đơn đó không có gì đặc biệt hơn so với những tấm lá chắn thời cổ đại của người Sparta hay những chiến binh Mác-xê-đô-nia của Alexander Đại Đế chinh phạt Châu Á.  Điểm khác biệt duy nhất là nó được làm bằng một vật liệu viễn tưởng có thể chịu được sự công phá của các vũ khí tấn công tối tân nhất.  Mục đích duy nhất của một tấm lá chắn, cho dù ở thời kỳ nào thì cũng là để bảo vệ người chiến binh khỏi sự tấn công của đối phương. 

Hình ảnh tấm lá chắn cũng được sử dụng rất nhiều trong Kinh Thánh.  Vua David[1], một chiến binh và một nhà quân sự nổi tiếng nhất trong lịch sử của người Do Thái, đã nhiều lần ví sánh Đức Chúa Trời là tấm lá chắn cho những ai nương náu mình nơi Ngài.  Cuộc đời của David là một loạt các cuộc chiến tranh để lập nên nhà nước Do Thái, chinh phạt các dân tộc lân cận và dẹp yên các cuộc nổi loạn từ nội bộ hoàng gia.  Cho dù các chiến tích của ông có dài đến đâu, hào hùng đến đâu thì qua các bài thơ của mình, David chỉ thấy thực sự được bình an khi nương náu nơi Đức Chúa Trời.  Đối với David, Đức Chúa Trời chính là tấm lá chắn không thể phá hủy được. 

Trong thời Tân Ước, sứ đồ Phao-lô cũng nhắn gửi các tín hữu ở thành Ê-phê-sô hãy trang bị cho mình những vũ khí phòng vệ trược sự tấn công và hủy phá của ma quỷ.  Trong thư[2], Phao-lô nói tấm lá chắn của người Cơ Đốc Nhân chính là đức tin của chúng ta nơi Đức Chúa Trời và nhờ đó, chúng ta được an toàn trước mọi mưu mô tấn công của kẻ địch. 

Qua thư gửi cho người Ê-phê-sô, Phao-lô nói về một cuộc chiến không phải bằng xác thịt mà là cuộc chiến thuộc linh.  Cuộc chiến thuộc linh mà Phao-lô nói cũng không khác gì cuộc chiến thuộc linh ngày nay.  Ma quỷ vẫn sẽ luôn tìm cách tấn công chúng ta khi chúng ta mất cảnh giác và sơ sảy trong cuộc chiến này.  Tấm lá chắn đức tin nơi Đức Chúa Trời không thể hủy phá được nhưng tấm là chắn đó sẽ không có hiệu quả nếu chúng ta không dùng để phòng vệ trước sự tấn công của ma quỷ.  Tấm là chắn của các bạn đang trong tình trạng nào?  Bạn có sẵn sàng trong cuộc chiến thuộc linh khi ma quỷ tấn công hay không? 




[1] Sinh khoảng năm 1040 Trước Chúa và mất khoảng năm 970 Trước Chúa
[2] Ê-phê-sô 6:10-18

Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2014

Eo biển Hellespont

Eo biển Hellespont (Ἑλλήσποντος), còn được gọi là Dardanelles (Δαρδανέλλια), là con đường giao thương nổi tiếng thời cổ đại.  Một bên eo biển là Hy Lạp (Châu Âu) còn một bên là Thổ Nhĩ Kỳ (Châu Á).  Eo biển này nối giữa Biển Marmara (nối ra Biển Đen) và Biển Aegean (nối ra Địa Trung Hải).  Vì vị trí đặc biệt của nó mà bất cứ một ai muốn cai trị cả thế giới Á-Âu đều phải vượt qua vùng biển này. 


Năm 480 Trước Chúa, Hoàng Đế Xerxes I của Đế Quốc Ba Tư cổ đã dẫn một đạo quân khổng lồ vượt qua Hellespont với ý định đánh dẹp sự nội dậy của người Hy Lạp.  Sau khi vượt qua eo biển Hellespont, Xerxes I đã không gặp sự kháng cự nào của người Hy Lạp cho đến khi ông ta gặp phải sự bất khuất, kiên cường của đội quân Sparta tinh nhuệ tại trận Thermopylae và liên quân Hy Lạp tại Athens. 

Gần 150 năm sau, năm 334 Trước Chúa, sau khi thống nhất được các thành bang Hy Lạp dưới sự cai trị của Ma-xê-đô-ni-a, Alexander Đại Đế (22 tuổi) thống lĩnh đại quân Hy Lạp vượt Hellespont, đánh tan Đế Quốc Ba Tư cổ. 

Có một sự kiện vượt eo biển Hellespont từ Châu Á sang Châu Âu có lẽ ít được nhắc đến hơn, nhưng nó lại có ý nghĩa thay đổi dòng lịch sử một cách mạnh mẽ và sâu sắc hơn cả.  Năm 50 Sau Chúa, sứ đồ Phao-lô cùng với Si-la, Ti-mô-thê và Lu-ca (người viết phúc âm Lu-ca) khi đang ở thành Trô-ách (Troy[1] - Thổ Nhĩ Kỳ) đã lên đường vượt biển sang thành Phi-líp (Hy Lạp).  Trong thời cổ đại, Trô-ách là vùng đất tận cùng của Châu Á và là nơi buôn bán tấp nập giữa Á-Âu.  Trong chuyến đi truyền giáo thứ hai, Phao-lô đi từ An-ti-ốt đến Trô-ách thăm qua nhiều hội thánh mà ông đã thành lập trong chuyến đi truyền giáo thứ nhất.  Khi đến Trô-ách, ông rất muốn quay trở lại tiếp tục gây dựng và mở rộng các hội thánh ở Châu Á, nhưng Đức Chúa Trời có một kế hoạch khác cho ông và Đức Thánh Linh ngăn cản việc ông quay lại Châu Á. 


Cũng chính tại Trô-ách, Đức Thánh Linh mách bảo cho Phao-lô trong cơn chiêm bao qua hình ảnh một người đàn ông Ma-xê-đô-ni-a đến năn nỉ Phao-lô giúp đỡ họ.  Chính vì lý do này, đoàn truyền giáo của Phao-lô đã đến thành Phi-líp, xứ Ma-xê-đô-ni-a.  Khác với các thành phố ở Châu Á mà Phao-lô truyền giáo đến trước đó đều có nhà hội của người Do Thái, thành Phi-líp không có hoặc có ít người Do Thái nên không có nhà hội.  Vì thế, đến ngày sa-bát, đoàn của Phao-lô ra ngoài thành để cầu nguyện.  Cũng chính tại đây, đoàn của Phao-lô gặp một nữ doanh nhân tên là Ly-đi.  Chúa mở lòng và Ly-đi cùng gia đình bà quy đạo, và họ trở thành những người Châu Âu đầu tiên tiếp nhận Phúc Âm.  Ngôi nhà của Ly-đi cũng trở thành nơi nhóm họp của các tín đồ tại thành Phi-líp và đó là hội thánh đầu tiên được thành lập ở Châu Âu. 



Sự kiện đoàn truyền giáo của Phao-lô từ Châu Á sang Châu Âu đã mở đầu cho sự mở rộng mạnh mẽ của Phúc Âm cứu rỗi, vượt khỏi phạm vi của Do Thái Giáo, và đánh dấu bước đầu Cơ Đốc Giáo trở thành toàn cầu.  Người tin theo Phúc Âm không chỉ là người Do Thái mà còn có người Hy Lạp và vô số các dân tộc khác.  Phúc Âm cũng không chỉ được giảng dạy trong các nhà hội Do Thái, mà các tín hữu còn nhóm họp, học lời Chúa và cầu nguyện tại nhà riêng.  Từ thời điểm đó, ở bất cứ nơi đâu mà Phúc Âm chưa được truyền đến, ở đó có người cần được giúp đỡ như hình ảnh người đàn ông Ma-xê-đô-ni-a năn nỉ Phao-lô đến giúp. 



[1] Nơi đã nổ ra cuộc chiến thành Troy trong khoảng thế kỷ 12-14 Trước Chúa, và được nhà thơ mù Homer kể lại trong bản trường ca Iliad.