Hiển thị các bài đăng có nhãn Chúa Giê-xu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chúa Giê-xu. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 9 tháng 11, 2014

Mục đích cuộc đời

TGIF - Today God is First[1] - Os Hillman

"Chúa phán 'Vì Ta biết rõ các chương trình Ta sẽ làm cho các ngươi, đó là các chương trình làm cho các ngươi được bình an thịnh vượng chứ không phải bị tổn hại, hầu ban cho các ngươi một hy vọng và một tương lai.'"  Giê-rê-mi 29:11

Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Ðức Chúa Trời, bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm. Thi-Thiên 19:1

Với nhiều người trên thế giới này, ý nghĩa thực sự của cuộc đời là kỳ nghỉ tiếp theo, thành công trong sự nghiệp, hoặc được tăng lương.  Đây là đời sống dựa trên những trải nghiệm của sự hoan lạc.  Rất nhiều người đã cố gắng cả cuộc đời để tìm kiếm một lối sống hoan lạc chỉ để cuối cùng nhận ra rằng cuộc sống đó hoàn toàn trống rỗng và vô nghĩa.  Bạn chỉ cần xem ti-vi một buổi tối để có thể nhận ra rằng các nhà quảng cáo muốn chúng ta tin vào mục đích sống này.  Chủ đề làm việc để chơi này là đề tài xuyên suốt các thông điệp quảng cáo. 

Sa-lô-môn là người đã nếm trải mọi hương vị cuộc sống.  Ông là nhà kiến thiết vĩ đại, doanh nhân vĩ đại, và là người tình tuyệt vời của phụ nữ.  Ông ấy có mọi sự hoan lạc mà con người có thể tưởng tượng ra.  Vậy nhưng, ông ấy kết luận rằng tất cả những thứ này không thể thỏa mãn được linh hồn của con người. 

Trong một chuyến đi gần đây đến một hòn đảo tuyệt đẹp đã giúp tôi cảm tạ Chúa vì Ngài đã cho tôi hiểu về cái bẫy của lối sống làm việc để chơi.  Những trải nghiệm sẽ rất tuyệt vời và sảng khoái khi đến thăm những địa danh đẹp nếu bạn không bị rơi vào cái bẫy suy nghĩ rằng những trải nghiệm này chính là một cuộc sống đầy ý nghĩa.  Những tạo vật tuyệt đẹp của Đức Chúa Trời có thể dễ dàng trở thành nhà tù của sự trống rỗng nếu Chúa Giê-xu không phải là trung tâm.  Sứ đồ Phao-lô nói rằng chỉ có một cách để tìm ra ý nghĩa và mục đích của cuộc sống:

"Tôi cầu xin Ðức Chúa Trời, Cha vinh hiển của Ðức Chúa Giê-xu, Chúa chúng ta, ban cho anh chị em linh của sự khôn ngoan và sự mặc khải để nhận biết Ngài.  Tôi cũng cầu xin cho con mắt của lòng anh chị em được khai sáng, để anh chị em có thể nhận biết hy vọng Ngài đã kêu gọi anh chị em là gì, sự giàu có của cơ nghiệp vinh hiển đang dành cho các thánh đồ là thể nào, và sự lớn lao vô lượng của quyền năng Ngài dành cho chúng ta, những người tin nhận..." (Ê-phê-sô 1:17-19)

Nhận biết Đấng Christ sẽ đem lại ý nghĩa và mục đích thực sự cho linh hồn con người.  Hãy dành thời gian ngày hôm nay để nhận biết Chúa theo cách gần gũi hơn.  Sau đó, bạn sẽ nhận ra ý nghĩa và mục đích thật sự của cuộc đời. 

-----
Os Hillman là chủ tịch tổ chức Lãnh đạo nơi Thương trường, tổ chức với mục đích giúp đỡ các tín hữu khám phá và hoàn thành những mục đích của Đức Chúa Trời qua mục vụ trong công việc hàng ngày.



Os Hillman




[1] Mục vụ "Ngày hôm nay, Chúa là đầu"

Thứ Năm, 9 tháng 10, 2014

Giúp đỡ kẻ yếu

"Chúng ta phải giúp đỡ những người yếu, do đó chúng ta phải làm việc vất vả như thế" Công vụ 20:35


Thời gian gần đây, khi vợ chồng tôi đọc đến cuối sách Công vụ, chúng tôi được nhắc nhở về cuộc gặp gỡ giữa Sứ đồ Phao-lô và các trưởng lão của các hội thánh trên khắp miền A-si-a (ngày nay là Thổ Nhĩ Kỳ).  Trong những năm trước đó, Phao-lô đã bỏ rất nhiều thời gian truyền giáo trên toàn miền A-si-a, thành lập hội thánh, thiết lập trưởng lão và mục sư để chăm sóc các hội thánh đó.  Đến cuối chuyến đi truyền giáo thứ 3 của mình, Phao-lô được Đức Thánh Linh mách bảo quay về Giê-ru-sa-lem để chịu bắt bớ vì danh Đấng Christ.  Khi biết đây là lần cuối mình được gặp những người mà bấy lâu ông chăm sóc, giảng dạy, Phao-lô căn dặn lại họ những điều quan trọng nhất: "Chúng ta phải giúp đỡ những người yếu, do đó chúng ta phải làm việc vất vả như thế." 

Bà Carol Cymbala hướng dẫn dàn hợp xướng 280 giọng của hội thánh Brooklyn Tabernacle trong buổi thờ phượng

Trước Phao-lô, Chúa Giê-xu cũng giảng dạy rằng xung quanh chúng ta sẽ luôn có những người góa bụa, trẻ mồ côi và những người yếu, không có khả năng bảo vệ mình.  Trong thế giới Cơ đốc giáo ngày nay, có nhiều hội thánh và tổ chức từ thiện đứng vào vai trò chăm lo cho người yếu, nhưng hội thánh Brooklyn Tabernacle ở tại địa chỉ 17 Smith Street, quận Brooklyn, thành phố New York, là một hội thánh vô cùng đặc biệt. 

Mục sư Jim Cymbala và vợ

Hơn 40 năm trước, mục sư James "Jim" R. Cymbala cùng vợ đến gây dựng một hội thánh ở quận Brooklyn đổ nát.  Từ khi hội thánh Brooklyn Tabernacle được thành lập chỉ với 20 tín đồ, mục sư Jim Cymbala đã có khải tượng đây sẽ là hội thánh duy trì sự cân bằng giữa giảng dạy (preaching) và cầu nguyện (praying).  Trong một bài trả lời phỏng vấn gần đây với đài truyền hình CBN, giới thiệu về cuốn sách mới của mình, mục sư Jim Cymbala nhấn mạnh lại trong suốt 40 năm trong mục vụ, ông chưa bao giờ quên tình yêu ban đầu đó. 


Từ giữa những năm 1970, bà Carol Cymbala, vợ của mục sư Jim Cymbala được Chúa đặt để một tấm lòng gây dựng một dàn hợp xướng để tôn vinh Chúa.  Dàn hợp xướng đầu tiên được thành lập với 9 giọng hát.  Sau bốn thập kỷ, dàn hợp xướng của Brooklyn Tabernacle đã đạt được 6 giải Grammy danh giá, phát hành hàng chục đĩa CD, được mời hát tôn vinh Chúa trong các buổi truyền giảng của mục sư Billy Graham, và gần đây nhất là buổi lễ tuyên thệ nhậm chức của Tổng thống Barrack Obama khi ông tái đắc cử nhiệm kỳ 2 năm 2013. 

Nhưng đúng như lời của mục sư Jim Cymbala, hội thánh đã không để những thành công làm lay động tình yêu ban đầu.  Trong dàn hợp xướng 280 giọng của Brooklyn Tabernacle ngày nay, có người là luật sư, có người trước đây vô gia cư và có người trước đây nghiện ma túy và gái mại dâm!  Ngay cả khi hội thánh phát triển đến hơn 16,000 tín đồ, một trong những hội thánh lớn nhất ở Hoa Kỳ, mục sư Jim Cymbala vẫn dành thời gian chăm sóc cho những người thực sự yếu đuối, những người ở bên lề xã hội, những người vô gia cư, những người nghiện ma túy, tù nhân và gái mại dâm.  Khi dàn hợp xướng này cất tiếng, các bản nhạc tôn vinh Chúa như được viết lên từ những mảnh đời được biến đổi của chính những giọng ca này.  Sự đa dạng và đời sống biến đổi chính là phép lạ mà Chúa đang làm qua mục vụ của một hội thánh phục vụ kẻ yếu. 

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014

Thân thể Đấng Christ

"Anh chị em là thân thể của Ðấng Christ và mỗi người là một chi thể" I Cô-rinh-tô 12:27


Trong thư tín gửi cho hội thánh ở Cô-rinh-tô, Phao-lô liên hệ hình ảnh về hội thánh toàn cầu là thân thể của Đấng Christ và mỗi cá nhân là một chi thể.  Trong các thư tín của mình, Phao-lô chỉ dùng chữ "hội thánh" ("ἐκκλησία" - phiên âm tiếng Anh là ecclesia) chứ không có chữ "nhà thờ".  Chữ ecclesia có nghĩa là hội đồng những người thánh, nói ngắn gọn là hội thánh.  Còn chữ "nhà thờ" (church) là chỉ về một công trình kiến trúc hữu hình, là khái niệm chỉ được các giáo hội sau này sử dụng.  

Tháp Ba-bên, công trình trọc trời đầu tiên của loài người

Trong thời kỳ đầu của lịch sử loài người, sau khi con người hư mất vì tội lỗi, bản thân con người cũng có ước muốn được quay trở lại với Đức Chúa Trời.  Và bằng sức riêng của mình, họ xây tháp Ba-bên với kỳ vọng là sẽ xây cao đến trời!  Nhưng chúng ta đều biết kết cục là dự án tháp Ba-bên hoàn toàn thất bại.  Sau tháp Ba-bên, Kim Tự Tháp Giza ở Ai Cập thống lĩnh ở vị trí công trình cao nhất thế giới suốt 3800 năm cho đến kỷ nguyên Cơ Đốc Giáo phục hưng ở Châu Âu.  Năm 1311, Nhà Thờ Lớn Lincoln (tên khác là Nhà Thờ Lớn Thánh Mary) ở Anh Quốc đoạt ngôi công trình cao nhất thế giới từ Giza và giữ vững danh hiệu này trong suốt 238 năm.  Trong suốt 600 năm tiếp theo, các thành phố lớn ở khắp Châu Âu, từ Anh đến Pháp, Đức đều đua nhau xây dựng những nhà thờ cao hơn, đẹp hơn và cầu kỳ hơn.  Nhà thờ cuối cùng được công nhận là công trình kiến trúc cao nhất thế giới là Ulm Minister ở vùng Bavaria, nước Đức, nóc nhà của thế giới từ khi khánh thành năm 1890 đến khi kỷ lục bị phá vỡ năm 1901.  Thế kỷ 20 cũng đặt dấu chấm hết cho cuộc đua của các nhà thờ trở thành công trình kiến trúc vĩ đại. 

Nhà thờ lớn Pha lê được ghép hoàn toàn bằng các tấm kính và giàn khung thép

Mặc dù cuộc đua của những ngôi nhà thờ trọc trời dường như đã dừng lại, nhưng các ngôi nhà thờ lộng lẫy, xa hoa vẫn không ngừng mọc lên.  Gần đây, tôi có dịp đến Nhà Thờ Ba Ngôi (Trinity Church) ở phố Wall, Manhattan, New York, một ngôi nhà thờ cổ kính xây bằng đá đỏ từ thế kỷ 18 nằm ở khu phố nhộn nhịp nhất thế giới này được tờ tạp chí tài chính hàng đầu, Thời báo New York (New York Times) định giá bất động sản lên đến hơn 42,000 tỷ đồng (2 tỷ USD) theo thời giá năm 2013.  Cũng theo Thời báo New York, nhà thờ này đang bị chia rẽ vì họ không biết nên làm gì với số tài sản khổng lồ họ có.  Trong lúc chưa quyết định được, họ đồng ý nâng lương cho mục sư chủ tọa từ 9 tỷ đồng (475.000 USD) lên 30 tỷ đồng (1.500.000 USD) mỗi năm và tặng cho ông ấy căn nhà trị giá 120 tỷ đồng (5.500.000 USD) do lạm phát!  Nhà Thờ Công Giáo Đấng Christ là Ánh Sáng ở Oakland, CA từ năm 2008 xây dựng cơ sở mới trị giá 2,700 tỷ đồng (130 triệu USD).  Nhà Thờ Baptist Thứ Nhất Dallas ở Dallas, TX cũng đang gây quỹ xây dựng 2,700 tỷ đồng (130 triệu USD) cho một điểm nhóm mới.  Nhà Thờ Lakewood ở Houston, TX cũng mới bỏ ra 1,500 tỷ đồng (75 triệu USD) cho việc... sửa sang.  Gần đây nhất là Nhà Thờ Cảm Hứng Thân Thể Đấng Christ ở Dallas, TX đầu tư một bể cá cảnh nước mặn[1] trị giá hơn 800 tỷ đồng (40 triệu USD).  Câu truyện đáng buồn nhất là Nhà Thờ Lớn Pha Lê ở Quận Cam, CA phải tuyên bố phá sản năm 2010 vì khoản nợ hơn 1,000 tỷ đồng (50 triệu USD), và phần lớn số nợ đó phát sinh từ chi phí xây dựng ngôi nhà thờ gần 3,000 chỗ ngồi toàn bộ bằng kính trang lệ này. 

Mục sư John Yates giảng tại Hội thánh Anh Giáo Falls Church

Trong khi đó, hội thánh Anh Giáo Falls Church, một hội thánh có hơn 4,000 tín đồ ở thành phố Falls Church bang Virginia, quyết định bỏ lại ngôi nhà thờ được xây dựng tuyệt đẹp từ thế kỷ 18 của họ vì sự sụp đổ về giáo lý của Anh Giáo Hoa Kỳ (Episcopal).  Hội thánh Anh Giáo Falls Church là một trong hơn 1,000 hội thánh Anh Giáo Hoa Kỳ đã quyết định rời bỏ giáo hội vì sự suy đồi của giáo hội và cái giá họ phải trả là mất địa điểm nhóm.  Khi quyết định rời bỏ giáo hội Anh Giáo Hoa Kỳ, hội thánh Anh Giáo Falls Church bàn giao lại toàn bộ tài sản gồm đất đai và toàn bộ tài sản khác.  Sau khi rời khỏi ngôi nhà thờ cũ, mục sư John Yates có khải tượng về xây dựng các hội thánh con (daughter churches) thay vì tập trung tại một hội thánh lớn để phát triển. 

Vợ chồng tôi có dịp đến nhóm tại Hội thánh Anh Giáo Phục Hồi (Restoration Anglican Church), một hội thánh con được thành lập với 70 tín hữu, trong 5 năm đã phát triển thành hơn 400 tín hữu!  Thậm chí địa điểm mà ban đầu họ thuê của một hội thánh Baptist đã được họ mua lại và xây dựng mở rộng vì hội thánh Baptist đó không còn đủ tín hữu để duy trì hoạt động và địa điểm đó quá nhỏ cho mục đích phát triển.  Hội thánh Anh Giáo Phục Hồi là một trong 6 hội thánh con phát triển ra từ Hội thánh Anh Giáo Falls Church. 

Hội thánh (ἐκκλησία - ecclesia) chính là trọng tâm của sứ điệp cứu rỗi.  Việc xây dựng hội thánh, hay chính là gây dựng những anh chị em trong thân thể Đấng Christ mới là mục đích sống quan trọng của mỗi Cơ Đốc Nhân.  Đúng là chúng ta cần có địa điểm để nhóm họp, thờ phượng Chúa và chia sẻ đời sống với nhau, nhưng khi việc xây dựng nhà thờ không bao giờ có thể được ưu tiên hơn việc xây dựng hội thánh.  




[1] Dallas là thành phố nằm sâu trong lục địa bang Texas, vùng biển gần nhất cũng phải 5-6 tiếng lái xe.  Việc đầu tư bể cá nước mặn được ông mục sư chủ tọa chia sẻ là được cảm hứng từ hình ảnh Chúa Giê-xu kêu gọi các môn đồ trở thành tay đánh lưới người!  

Thứ Bảy, 23 tháng 8, 2014

Người dâng nhiều nhất

"Quả thật, Ta nói với các ngươi, bà góa nghèo nầy đã bỏ vào thùng tiền dâng nhiều hơn những người khác" Lu-ca 21:3



Một ngày kia khi Chúa Giê-xu ngồi trong đền thờ và thấy một người đàn bà góa bỏ vào hòm dâng hiến hai đồng xu[1] và Ngài nói với những người xung quanh rằng bà góa này dâng nhiều hơn tất cả những người khác.  Ngay lúc đó, Chúa Giê-xu giải thích cho các môn đồ rằng mọi người chỉ dâng cho Đức Chúa Trời phần mình có dư, nhưng người đàn bà này đã dâng tất cả những gì mình có! 

Phép toán trong Nước Đức Chúa Trời quả thật không giống với cách mà thế gian nhìn nhận.  Có một ví dụ thú vị mà các triết gia đã mất rất nhiều công sức và giấy mực là để phân định xem một cái cốc là "cạn một nửa" hay "đầy một nửa".  Người bi quan (pessimist) cho rằng cái cốc đã cạn một nửa và họ luôn lo lắng rằng cái cốc sẽ tiếp tục cạn hơn nữa.  Người lạc quan (optimist) cho rằng cái cốc đã được đầy một nửa vì họ hy vọng rằng cái cốc sẽ được đổ thêm cho đầy hơn.  Quan điểm hay thế giới quan là điều khó thay đổi vì nó chính là lăng kính mà chúng ta qua đó nhìn mọi sự vật, sự kiện xảy ra xung quanh.  Cái cốc trong mắt người bi quan sẽ không bao giờ đầy và cái cốc trong mắt người lạc quan sẽ không bao giờ cạn. 


Quay trở lại câu truyện về người đàn bà góa được Lu-ca ghi chép lại, liệu bà ấy là người bi quan hay lạc quan?  Khi chúng ta nhìn vào câu truyện về những con người có thật và sự kiện thực sự xảy ra, các lý luận triết học trở nên nông cạn và quá đơn giản.  Khi giảng dạy trên đất, Chúa Giê-xu rất hay dùng các hình ảnh ẩn dụ để chia sẻ về Nước Đức Chúa Trời, nhưng cũng có đôi lúc, Ngài sử dụng một câu truyện có thực để giải thích cho người nghe về những giá trị trong Nước Đức Chúa Trời, và đây là một câu truyện thực tế đã xảy ra.  Trong xã hội Do Thái đầu Công Nguyên, phụ nữ góa bụa là những người khó khăn nhất vì họ mất đi người chồng.  Trong xã hội đó, người chồng là trụ cột về kinh tế, thuộc linh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về bất cứ vi phạm nào do vợ hoặc con cái gây ra.  Khi người chồng mất đi, tất cả những nghĩa vụ đó sẽ đổ lên đầu người vợ góa.  Hơn nữa, số tiền bà góa này dâng cũng là số tiền rất nhỏ, vì lepta là đồng tiền có mệnh giá thấp nhất trong bảng tiền tệ của Hy Lạp Cổ đại. 

Khi nhìn vào cái cốc đang đầy hay vơi, dù với thế giới quan nào đi chăng nữa thì một người cũng sẽ phải đưa ra một so sánh.  Người bi quan thì dùng thước đo "cạn" để so sánh trong khi người lạc quan dùng thước đo "đầy" để so sánh.  Nhưng toán học và triết học trong Nước Đức Chúa Trời thì không sử dụng thước đo thông thường để so sánh.  Đức Chúa Trời nhìn vào tấm lòng của con người! 

Để minh họa, tôi muốn chia sẻ với các bạn về bà Lee, một tấm gương trong sự dâng hiến mà tôi được gặp nhờ sự dẫn đưa của Chúa Thánh Linh. 

Bà Lee sinh năm 1942 tại bán đảo Triều Tiên trong thời Đế Quốc Nhật Bản chiếm đóng.  Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt bởi chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), bà Lee quyết định tìm con đường thoát thân để tìm một tương lai tươi sáng hơn.  Năm 1968, khi 26 tuổi, bà Lee học xong chứng chỉ y tá ở Hàn Quốc và được sang New York, Mỹ theo diện xuất khẩu lao động với nghề y tá.  Ngay khi đến Mỹ, bà tìm đến nhà thờ mặc dù chưa tin Chúa vì đó là nơi cộng đồng người Hàn Quốc nhóm họp và chia sẻ, giúp đỡ nhau, nhưng cũng tại đó mà bà gặp Chúa.  Sau khi kết hôn, bà Lee và chồng tiếp tục làm việc một cách cần mẫn nhưng công việc của họ có nhiều vất vả. 

Năm 1977, gia đình họ mua một căn nhà nhỏ ở Staten Island, New York.  Một thời gian ngắn sau, hai vợ chồng bà Lee quyết định vay một khoản tiền lớn để mua lại một tiệm giặt là.  Như nhiều gia đình nhập cư khác, họ làm việc từ 12-14 giờ mỗi ngày.  Bà Lee vừa phụ giúp công việc của cửa hàng, vừa chăm sóc hai con nhỏ.  Bà Lee kể lại, hàng ngày, sau khi cho các con ăn, giúp con học bài rồi đi ngủ, bà Lee lại xuống tầng hầm để làm một số việc may vá theo đơn của khách tại tiệm giặt.  Với bà, khoảng thời gian từ 9 giờ tối đến 1 giờ đêm là thời gian phước hạnh vì bà được tĩnh lặng trước Chúa, bà thường nghe các bài giảng của Tiến sĩ James Dobson qua chương trình Focus on the Family[2] trong lúc làm việc. 

Đầu những năm 1980, Tiến sĩ Dobson có bài phỏng vấn Tiến sĩ David A. Noeble và qua đó giới thiệu về Summit Ministries, chương trình trại hè mà Tiến sĩ Noeble đã phát triển để chuẩn bị cho giới trẻ về thế giới quan của Cơ Đốc Giáo.  Ngay sau khi nghe bài giới thiệu về Tiến sĩ Noeble và Summit Ministries, bà Lee quyết định đăng ký cho cô con gái lớn theo học tại Summit Ministries, rồi tiếp sau đó là cậu con trai.  Được Chúa cảm động và qua những ảnh hưởng nhìn thấy được qua con cái mình, bà Lee bắt đầu đi vận động và chia sẻ với các gia đình trong hội thánh của mình.  Một thời gian ngắn sau, các thanh thiếu niên trong hội thánh mà gia đình bà nhóm đều hoàn thành khóa học của Summit Ministries.  Trong các năm tiếp theo, bà Lee kiên trì đi đến các hội thánh có đông tín đồ là người Hàn Quốc ở các khu vực quanh New York để giới thiệu về Summit Ministries. 

Năm 1996, bà Lee chính thức thành lập quỹ học bổng Korean Scholarship for the Summit Ministries ("KSSM") để hỗ trợ cho các học sinh có hoàn cảnh khó khăn muốn tham dự Summit Ministries.  Từ năm 2006, quỹ học bổng KSSM mở rộng và cấp cả học bổng cho thanh thiếu niên học tập và sinh sống ở Hàn Quốc đến học tại Summit Ministries.  Đến nay, quỹ học bổng KSSM đã cấp học bổng cho khoảng 140 thanh thiếu niên đến từ New York, Hàn Quốc, Việt Nam, Nam Phi và nhiều nơi trên khắp thế giới học tại Summit Ministries. 

Mùa hè 2014 vừa qua, khi vợ chồng tôi đến thăm, bà Lee và chồng đã nghỉ không còn làm tiệm giặt là nhưng họ vẫn sống ở ngôi nhà nhỏ ở Staten Island, và căn nhà dường như không thay đổi gì từ khi mua năm 1977.  Chúng tôi không khỏi ngạc nhiên vì những điều kỳ diệu và lớn lao mà Đức Chúa Trời đã làm thông qua người phụ nữ nhỏ bé này.  Qua sự dâng hiến và tận tâm của bà Lee, KSSM đã được xây dựng và phát triển, và KSSM sẽ tiếp tục thay đổi cuộc sống của nhiều người.  Sự dâng hiến ban đầu của bà Lee và gia đình cho KSSM không thể đong đếm được bằng tiền vì những giá trị mà nó để lại là vô giá.  Cũng giống như người đàn bà góa được Chúa Giê-xu nhắc đến trong phúc âm Lu-ca, tấm lòng của bà Lee khi dâng hiến không đặt trọng tâm vào mình mà đặt vào Chúa, vào công việc mà Ngài kêu gọi.

Chúa đang kêu gọi bạn dâng gì cho Ngài?  Bạn có sẵn sàng dâng mình làm công cụ hữu ích trong tay Chúa không? 




[1] Trong bản Tiếng Hy Lạp sử dụng từ "lepta" (λεπτά): đồng tiền có mệnh giá thấp nhất trong hệ thống tiền tệ Hy Lạp Cổ đại.  Trong thời cận đại, Hy Lạp có đúc ra tiền xu lepta này với mệnh giá thấp nhất là 5 lepta. 
[2] tạm dịch là "Tập trung vào Gia đình"

Thứ Bảy, 26 tháng 4, 2014

... và Phi-e-rơ

"Vì Đức Chúa Trời chống lại kẻ kiêu ngạo, và ban ân điển cho kẻ khiêm nhường[1]."  - I Phi-e-rơ 5:5


Vào buổi sáng Chúa Nhật Phục Sinh, Chúa Giê-xu sống lại và những người đầu tiên được gặp Ngài là Mari mẹ Ngài, Mari Ma-đơ-len và Sa-lô-mê.  Ngay khi gặp Ngài, họ được lệnh đi loan báo về sự sống lại của Ngài cho các môn đồ... và Phi-e-rơ[2].  Duy nhất có sách Mác viết rõ về mệnh lệnh của Chúa Giê-xu cho những người phụ nữ này và trong đó tách biệt Phi-e-rơ với các môn đồ khác. 

Lần cuối mà phúc âm Mác nhắc đến Phi-e-rơ trước thời điểm này là khi ông bật khóc nức nở sau khi nghe tiếng gà gáy và nhận ra rằng mình đã chối Chúa[3]. 

Cho đến trước thời điểm Chúa Giê-xu bị bắt, Phi-e-rơ là người dường như nổi bật nhất trong các môn đồ.  Các sách phúc âm chép lại nhiều sự kiện mà Phi-e-rơ là người "xung phong" trả lời các câu hỏi khó của Chúa, ông đi bộ với Chúa Giê-xu trên mặt biển, và thậm chí trong vườn Ghết-sê-ma-nê, ông là người rút kiếm, sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ Chúa của mình.  Nhưng hình ảnh một con người mạnh mẽ hoàn toàn sụp đổ khi kết chương 14 của phúc âm Mác, Phi-e-rơ đổ vỡ hoàn toàn, và ông đã khóc!  Có lẽ ông khóc vì nhận ra sự yếu đuối của mình, có lẽ ông khóc vì thấy mình hèn hạ khi đã phải chối bỏ mối quan hệ của mình với người thầy mà mình đã đi theo trong suốt nhiều năm.  Giữa sự đổ vỡ hoàn toàn đó, có lẽ đã có lúc Phi-e-rơ nghĩ đến việc kết liễu cuộc đời mình giống như Giu-đa!

Mặc dù Phi-e-rơ đã thất bại, cái tôi của ông đã chết, nhưng Chúa không bao giờ từ bỏ.  Ngài là đấng thành tín.  Khi Ngài sống lại, Chúa đi tìm gặp Phi-e-rơ.  Con người mới của Phi-e-rơ không còn sợ sệt, run sợ trước sự bắt bớ, nhưng là người làm chứng mạnh mẽ về sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu, và ông luôn sẵn sàng đối diện với sự bắt bớ vì đức tin của mình.  Phi-e-rơ đã khiêm nhường, chấp nhận để cái tôi của mình chết đi và thay vào đó là để ân điển của Chúa Thánh Linh sống trong ông.  Với nỗ lực cá nhân, nếu chúng ta thất bại trong cuộc sống thì hãy luôn được nhắc nhở về quyền năng của Chúa Thánh Linh đã làm trên đời sống của Phi-e-rơ sau khi ông được Ngài khôi phục. 




[1] "for God resisteth the proud, and giveth grace to the humble" I Peter 5:5 (KJV)
[2] Mác 16:7
[3] Mác 14:72