Hiển thị các bài đăng có nhãn I Cô-rinh-tô 6:1-11. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn I Cô-rinh-tô 6:1-11. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 17 tháng 3, 2015

Thiểu số đã thắng cuộc bầu cử bằng cách nào?

Xin được đăng tải lại bài viết đã được đăng trên nội san True Light số 3 tháng 11 năm 2014.  

Cuộc bầu cử thay đổi lịch sử Hoa Kỳ

Trong đời sống chính trị Hoa Kỳ nửa đầu thế kỷ 19 trở về trước, nô lệ là một phần tự nhiên của xã hội và không chính khách nào có tiếng nói thực sự chống lại vấn nạn này.  Chỉ đến những năm 1850, Abraham Lincoln và đảng Cộng hòa mới bắt đầu lên tiếng về việc chấm dứt chủ nghĩa chiếm hữu nô lệ này.  Đối lập với đảng Cộng hòa, đảng Dân chủ muốn duy trì chủ nghĩa chiếm hữu nô lệ trên toàn nước Hoa Kỳ, và họ đang chiếm ưu thế hoàn toàn với thắng lợi vang dội trong 2 cuộc bầu cử năm 1852 và 1856. 

Cũng trong thời kỳ này, Hoa Kỳ mở rộng về phía Tây, trải dài đến tận California và Oregon.  Nhiều vùng lãnh thổ dần được sáp nhập vào Hoa Kỳ.  Câu hỏi cho cử tri của các vùng lãnh thổ này là khi gia nhập vào liên bang, họ muốn cho phép chiếm hữu nô lệ hay xóa bỏ chiếm hữu nô lệ.  Ngã rẽ chính trị này đã dẫn đến một cuộc bầu cử mà người đại diện cho thiểu số lại chiến thắng đa số.  Abraham Lincoln và đảng Cộng hòa đã dành chiến thắng chỉ với 39.9% số phiếu bầu.  Hơn 60% cử tri Hoa Kỳ đã bầu cho ứng cử viên mà không phải là Lincoln.  Thiểu số đã thắng cuộc bầu cử bằng cách nào? 

Câu trả lời chính là chia rẽ của đa số.  Cho đến cuối thập niên 1850, phần lớn dân số Hoa Kỳ vẫn đồng ý với chủ nghĩa nô lệ, đảng Dân chủ vẫn nhận được sự ủng hộ của đa số cử tri.  Tuy nhiên, sự chia rẽ bắt đầu khi đảng Dân chủ tổ chức đại hội đảng tháng 4 năm 1860 để chọn lựa ứng cử viên.  Các đại biểu đến từ miền Bắc muốn đưa Thượng Nghị sỹ Stephen A. Douglas ra tranh cử trong khi các đại biểu miền Nam phản đổi quan điểm của Douglas cho phép các vùng lãnh thổ tự do chọn lựa có cho phép chiếm hữu nô lệ hay không.  Các đại biểu miền Nam muốn đưa đương kim Phó Tổng thống John C. Breckinridge ra tranh cử.  Đại hội đảng Dân chủ thất bại và cả Douglas và Breckinridge trở thành ứng cử viên.  Ngoài ra, một số chủ đồn điền miền Nam còn quyết định lập một đảng mới, ôn hòa hơn, Đảng Liên hiệp Hiến pháp và đưa Thượng Nghị sỹ John Bell ra ứng cử. 
Kết quả cuộc bầu cử là Lincoln dành được 39.9% số phiếu trong khi ba ứng cử viên còn lại chia nhau 60% số phiếu bầu, trong đó, Douglas dành được nhiều phiếu nhất với 29.5%. 

Đây không phải là lần đầu tiên hay lần duy nhất mà Tổng thống Hoa Kỳ không được bầu với đại đa số phiếu.  Nhưng nó đặc biệt ở chỗ, trong cả bốn ứng cử viên, chỉ có duy nhất Abraham Lincoln là người muốn xóa bỏ chủ nghĩa nô lệ.  Phần lớn cử tri, dù cho đồng ý với sự duy trì chủ nghĩa nô lệ, nhưng bị giằng xé giữa ba ứng cử viên và sự chia rẽ đó đã làm họ trả giá bằng một sự thất bại.  Từ đó, đất nước Hoa Kỳ đã hoàn toàn thay đổi và không bao giờ trở lại trạng thái như trước! 

Tâm sự cuối cùng của Chúa Giê-xu

Khi một người phải đối diện với cái chết cận kề và người đó tin rằng mình không thể qua khỏi, thì mọi lời người đó trăn trối sẽ được coi là lời nói có tính xác thực và quan trọng nhất.  Trong đêm sau bữa tối cuối cùng, Chúa Giê-xu và các môn đồ cùng lên núi và cầu nguyện.  Ngài biết rằng đây sẽ là những thời khắc ngắn ngủi còn lại của Ngài ở trên đất.  Trong lời cầu nguyện của mình, Chúa Giê-xu cầu nguyện cho sự hiệp một của các môn đồ[1] và Ngài cũng cầu nguyện cho sự hiệp một của những người sẽ được nghe lời chứng của các môn đồ[2], chính là chúng ta, những Cơ đốc nhân ngày nay.  
Đối với Chúa Giê-xu, điều cần thiết và quan trọng nhất trước khi Ngài về với Đức Chúa Cha chính là sự hiệp một của toàn bộ các môn đồ và mọi Cơ đốc nhân.  Dường như sự hiệp một cũng là việc quá sức với các Cơ đốc nhân. 

Theo nghiên cứu Sơ lược về tình hình Tôn giáo Toàn cầu của Trung tâm Nghiên cứu PEW, tính đến cuối năm 2010, Cơ đốc giáo là tôn giáo lớn nhất với 2.2 tỷ tín đồ, chiếm đến 32% dân số trên toàn cầu.  Nhưng mặt khác, theo cuốn Bách Khoa Toàn Thư Thế Giới Cơ Đốc do Barrett, Kurian, Johnson (Nhà xuất bản Đại học Oxford, tái bản lần 2, năm 2001), Cơ đốc giáo cũng là tôn giáo có nhiều hệ phái nhất ("denominations") với hơn 33,000 hệ phái, theo 6 nhóm lớn.  Xem ra điều mà Chúa Giê-xu lo lắng quả là không thừa. 

Lẽ ra chúng ta đã phải làm gì

Khi nói về sự khởi đầu của trường đại học Regent, nhà sáng lập M.G. "Pat" Robertson chia sẻ hình ảnh làm ông ấn tượng nhất về sự hiệp một lại đến từ chính những người xây tháp Ba-bên, nhân vật phản diện trong Sáng Thế Ký.  Kinh Thánh có chép rằng, khi nhìn thấy loài người quyết tâm xây dựng tháp Ba-bên, Đức Chúa Trời phán "nếu chúng khởi sự như một dân nói cùng một ngôn ngữ, thì sẽ chẳng có gì chúng lên kế hoạch mà chúng không làm được hết."  Vì ngôn ngữ là phương tiện để chúng ta giao tiếp với nhau, nên những con người xây tháp Ba-bên đã giao tiếp với nhau một cách hoàn hảo và công việc của họ cứ được tiến hành đều đặn cho đến khi Chúa làm cho họ bất đồng với nhau.  Khi sự bất đồng nảy sinh, mỗi người đi về một hướng và công việc bị bỏ dở. 

Từ bài học đó, chúng ta có thể thấy được chìa khóa của việc hiệp một chính là học cách trở thành một dân nói cùng một ngôn ngữ.  Sự cứu chuộc  trong Chúa Giê-xu đã đưa chúng ta trở thành con dân của nước trời, và, nhờ ân điển của Ngài, chúng ta có thể học cách nói cùng một ngôn ngữ. 

Thứ nhất, sự bất đồng trong giao tiếp làm cho chúng ta chia rẽ.  Cách khắc phục cơ bản nhất là chúng ta phải có cái nhìn đúng về vị trí của mình trong thân thể Đấng Christ và vai trò của những anh em khác.  Trong thư gửi cho hội thánh thành Phi-líp, Phao-lô dặn rằng chúng ta không được làm gì mà xuất phát từ lòng ích kỷ và tự phụ, ngược lại, phải khiêm nhường, tôn trọng người khác hơn mình[3].  Cách nhanh nhất dẫn đến sự bất đồng chính là coi mình cao trọng hơn người khác.  Điều đó, giống như trong giao tiếp, ta chỉ có nói chứ không có nghe người đối diện.  Nếu không có sự khiêm nhường, tôn trọng người khác thì chúng ta sẽ không thể giao tiếp với nhau để hóa giải những khác biệt được. 

Thứ hai, chúng ta phải tập tành tìm cách giải quyết bất đồng bằng hòa giải.  Khi tranh tụng, sẽ có một bên được và một bên mất bất kể bên nào đúng, bên nào sai.  Điều đó đi ngược lại với tinh thần gây dựng cho thân thể của đấng Christ theo nguyên tắc do Đấng Christ thiết lập tại Ma-thi-ơ 18:15-20 và Phao-lô khẳng định lại trong I Cô-rinh-tô 6:1-11.  Mục đích của hòa giải là tìm cách chia sẻ thiệt hại giữa các bên liên quan và hàn gắn lại rạn nứt trong mối quan hệ chứ không phải để phân định thiệt hơn.  Chính Chúa Giê-xu đã làm hoàn hảo vai trò hòa giải để đưa con người về với Đức Chúa Trời.   
Cuối cùng, chúng ta hãy tập tành việc phó sự sống mình vì bạn hữu[4].  Để hiểu rõ hơn sự hy sinh này, xin hãy xem câu chuyện dưới đây.  

Một buổi chiều nọ, Carolyn Savage được bác sỹ báo tin vui là kết quả thụ tinh trong ống nghiệm của cô đã thành công, nhưng bệnh viện đã mắc sai lầm và cấy vào Carolyn phôi thai của một cặp vợ chồng khác.  Carolyn và Sean, chồng cô, vừa vui mừng, vừa hoang mang về đứa trẻ sẽ ra đời.  Mặc dù gia đình Savage muốn giữ lại đứa trẻ vì Carolyn đã phải mang nặng đẻ đau, và họ có thể kiện để đòi quyền nuôi đứa trẻ, đồng thời kiện cơ sở y tế đã mắc sai lầm.  Nhưng họ đã không làm như vậy.  Một ngày kia, gia đình Morrell cũng rụng rời khi nghe tin rằng đứa trẻ mang theo DNA của mình sẽ được người phụ nữ khác mang thai, và có khả năng trở thành con của gia đình đó.  Cuối cùng, thay vì chọn lựa phương án tranh tụng đến cùng, gia đình Savage đã quyết định làm điều không tưởng, đó là trao lại đứa bé cho gia đình Morrell.  Trong buổi trả lời phỏng vấn của CNN, Carolyn Savage đã nói rằng niềm tin của hai vợ chồng họ đã thôi thúc họ trả lại đứa bé mà cô đã gắn bó suốt thời kỳ mang thai.  Gia đình Morrell cũng hoàn toàn ngỡ ngàng vì họ đã từng nghĩ rằng không bao giờ được gặp lại đứa bé mang DNA của mình. 

Gia đình Savage đã thực sự cho thế giới thấy tình yêu lớn nhất chính là đặt nhu cầu của người khác lên trên nhu cầu của mình, đó chính là sự hy sinh lớn lao mà Chúa Giê-xu nói.  Một cặp vợ chồng sau bao nhiêu khó khăn trong việc sinh nở, sẵn sàng cho đi đứa con mà mình sinh ra vì họ tin rằng điều đó sẽ là tốt hơn cho cặp vợ chồng kia và đứa bé. 

Khi có tình yêu thương của Đấng Christ, chúng ta sẽ biết hạ mình xuống và tôn trọng anh chị em mình, có thể hòa giải mọi bất đồng và hơn hết là từ bỏ chính mình vì người khác.  Chúng ta đã là một dân, và tình yêu thương chính là ngôn ngữ chung của mọi Cơ đốc nhân để làm thành mọi việc được giao phó. 

Từ những con người muốn chống nghịch lại Chúa bằng cách xây dựng tháp Ba-bên cho đến những chính trị gia muốn duy trì chủ nghĩa nô lệ, chỉ cần họ hiệp một được với nhau, xóa đi mọi sự khác biệt, thì họ đã có thể đạt được điều họ muốn, kể cả khi điều đó có là xấu!  Với gần 1/3 thế giới là Cơ đốc nhân, những người sống có chung mục đích, chỉ cần chúng ta có thể hiệp một lại với nhau bằng ngôn ngữ của tình yêu thương thì thế giới này chắc sẽ tốt đẹp hơn biết bao. 


[1] Giăng 17:11 "Lạy Cha thánh, xin Cha bảo vệ họ, những người Cha ban cho Con, trong danh Cha, để họ hiệp một như Chúng Ta là một."
[2] Giăng 17:20-21 "Con không chỉ cầu xin cho họ, nhưng cũng cho những ai nghe lời họ mà tin Con, để tất cả họ có thể hiệp một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha"
[3] Phi-líp 2:3 " Đừng làm điều gì do lòng ích kỷ và tự phụ. Trái lại phải khiêm nhường, tôn trọng người khác hơn mình"
[4] Giăng 15:13 "Chẳng có sự yêu thương nào lớn hơn là vì bạn hữu mà phó sự sống mình."

Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2014

Sự kêu gọi làm người hòa giải

"Phúc cho những ai mang lại hòa thuận, vì Đức Chúa Trời sẽ gọi họ là con cái Ngài" Ma-thi-ơ 5:9



Có thể đã có lúc các bạn nghĩ rằng phương pháp hòa giải mâu thuẫn giữa các Cơ Đốc Nhân chỉ có thể áp dụng được với các vấn đề nhỏ? các vấn đề không quan trọng đến tính mạng con người? các vấn đề không phức tạp?  Vậy, hãy xem Đấng Christ đã hòa giải mâu thuẫn giữa Đức Chúa Trời và loài người tội lỗi như thế nào?  Có phải Ngài chỉ gọi các bên đến ngồi lại với nhau, đạt được thỏa thuận, quay về văn phòng, soạn thảo một bản hợp đồng, đưa cho các bên ký và thu phí tư vấn?  KHÔNG, chính Ngài đã trả TẤT CẢ chi phí.  Đó là sự khác biệt giữa hòa giải Cơ Đốc và các phương pháp khác của con người.  Người hòa giải Cơ Đốc là người được gọi để trở nên giống Đấng Christ.  Mọi người liên quan đến tranh chấp vừa phải cố gắng tìm ra sự thật, vừa phải học cách dâng mình như chính Chúa đã dâng mình Ngài cho chúng ta. 

Thư Phi-líp 2:1-8 hướng dẫn cho chúng ta theo sự chỉ dẫn của Chúa bằng cách quan tâm đến lợi ích của người khác hơn là lợi ích của bản thân.  Nghĩ đến lợi ích của người khác, chìa khóa của việc hòa giải, chính là một nguyên tắc sống.  Nhưng liệu lối sống đó có tác dụng? 

Sam Ericsson chia sẻ một trường hợp khác khi mục sư liên hệ với ông về một tình huống có một người phụ nữ 22 tuổi vừa mới sinh một đứa con ngoài giá thú, và đã được cô ấy cho đi làm con nuôi qua sự giúp đỡ của hội thánh.  Lúc đó, mục sư nói với cô gái rằng cô ấy có một năm để thay đổi quyết định trước khi việc nhận con nuôi hoàn tất.  Nhưng thực tế, theo luật của tiểu bang đó, thời gian chỉ là sáu tháng.  Một cách vô tình, vị mục sư kia đã đưa ra một lời tư vấn pháp lý sai. 

Sau sáu tháng, một nhân viên hoạt động xã hội đến với người mẹ trẻ để lấy chữ ký của cô cho thủ tục nhận con nuôi, nhưng cô ấy không đồng ý.  Cô ấy thấy được thuyết phục rằng Chúa muốn cô ấy nuôi đứa bé này.  Nhưng mặt khác, cặp bố mẹ nhận nuôi cũng được thuyết phục rằng đứa trẻ chính là câu trả lời của Chúa cho lời cầu nguyện trong suốt bảy năm qua của họ. 

Luật sư của cả hai bên đều là Cơ Đốc Nhân nên Sam Ericsson gợi ý cho họ rằng thay vì ra tòa, tại sao không đưa vụ việc này ra cho Hội thánh xem xét?  Sau một tuần cầu nguyện, cả hai bên đồng ý và bắt đầu lên kế hoạch họp.  Có một vài cách để giải quyết việc này, nhưng Sam Ericsson gợi ý cách thành công nhất là sử dụng một hội đồng gồm ba người (một luật sư Cơ đốc, một mục sư và một tín hữu có chuyên môn về lĩnh vực đang tranh chấp).  I Cô-rinh-tô 6:1-11 gợi ý là các bên tranh chấp biết rõ những người sẽ xét xử cho mình; những vị thẩm phán này không phải người xa lạ.  Họ phải là những người có uy tín về những phán quyết hợp tình hợp lý và công bằng. 

Cuộc hòa giải bắt đầu bằng ba câu hỏi: (1) "Tại sao các anh em lại có mặt ở đây?", được trả lời bằng việc đọc I Cô-rinh-tô 6:1-11; (2) "Chúng ta sẽ phải cư xử như thế nào?", đọc Phi-líp 2:1-8; và (3) "Thái độ của chúng ta sẽ phải như thế nào?", được trả lời bằng I Cô-rinh-tô 13.  Sau đó là lời cầu nguyện. 

Trong một phiên tòa thông thường, một phía cố gắng đưa ra các điểm mạnh nhất cho mình và tránh đề cập đến những điểm mạnh của đối phương.  Nhưng trong trường hợp này, cả bố mẹ nhận nuôi và bà mẹ trẻ đều xây dựng cho bên kia.  Thậm chí là cả các luật sư cũng bắt đầu chỉ ra những điểm mạnh của bên kia.  Sau buổi biện luận, hai bà mẹ ôm lấy nhau.  Mỗi bên rời buổi biện luận tin rằng người kia có lý hơn. 

Hội đồng suy ngẫm lời Chúa, xem xét cặn kẽ các vấn đề chứng cứ và tìm kiếm ý Chúa.  Cuối cùng, sau hai tuần, họ đưa ra phán quyết bằng văn bản kết luận rằng họ tin tưởng ý Chúa để cho đứa trẻ được tiếp tục sống với bố mẹ nuôi.  Đây không phải là một kết quả mà người mẹ trẻ muốn nghe, nhưng cô ấy nói "Tôi chưa bao giờ được trải qua một thủ tục công bằng hơn thế này, và tôi chấp nhận quyết định này." 

Khi chúng ta đưa vấn đề ra giữa Hội thánh, không có gì đảm bảo là chúng ta sẽ đạt được kết quả mà mình muốn.  Hội thánh thậm chí có thể mắc sai lầm.  Nhưng, chúng ta vẫn phải làm theo thủ tục mà Đấng Christ đã thiết lập tại Ma-thi-ơ 18:15-20 và Phao-lô khẳng định lại trong I Cô-rinh-tô 6:1-11.  Nếu thủ tục này được thực hiện một cách liêm chính, thì không có một thủ tục nào có thể công bằng hơn để giải quyết các tranh chấp giữa Cơ Đốc Nhân. 


Tôi cũng cùng một niềm tin với Sam Ericsson, chúng ta đang sống trong một thế giới sa ngã, không có bất cứ thủ tục, hệ thống pháp lý hay thẩm phán nào có thể đảm bảo chúng ta sẽ được điều mình muốn.  Tuy nhiên, mục đích cho cuộc sống của chúng ta ở trên đất là gây dựng cho thân thể của Đấng Christ qua việc gây dựng các anh chị em trong cùng đức tin.  Thủ tục hòa giải là cách làm tốt nhất!  

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2014

Sự thất bại của Cơ Đốc Nhân

Trong phần trích dẫn từ bài viết của Sam Ericsson tuần trước, các bạn đã một phần nào hình dung được công thức để hóa giải mâu thuẫn của Cơ Đốc Nhân.  Hôm nay, tôi muốn chia sẻ với các bạn một câu truyện khi Cơ Đốc Nhân kiện tụng sẽ dẫn đến sự hủy phá của thân thế Đấng Christ. 


Ngày 30 tháng 12 năm 1976, Tòa Án Phúc Thẩm tiểu bang California ban hành phán quyết tái khẳng định kết quả của tòa án sơ thẩm trong vụ kiện Scott v. Family Ministries.  Theo phán quyết, (1) Family Ministries sẽ không còn quyền giám hộ hoặc kiểm soát với các trẻ em và sẽ không được tiếp tục cho nhận con nuôi nếu không có phán quyết nào của tòa; (2) yêu cầu Family Ministries giao lại toàn bộ quyền giám hộ với các trẻ em cho Sở Nhận Con Nuôi hạt Los Angeles; (3) hủy bỏ các trường hợp nhận con nuôi và nhận nuôi tạm thời hoặc chăm sóc do Family Ministries đã triển khai trước đó; (4) giao lại quyền giám hộ với các trẻ em cho Sở Nhận Con Nuôi hạt Los Angeles. 

Đây là một kết quả khủng khiếp xuất phát từ những Cơ Đốc Nhân rất tận hiến với công việc, nhưng đã không biết cách giải quyết mâu thuẫn theo cách mà Chúa hướng dẫn. 

Câu truyện bắt đầu khi World Vision mở trung tâm chăm nuôi trẻ bị thiếu dinh dưỡng ở Phnom Penh từ đầu năm 1970.  Đến tháng 4 năm 1975, việc lực lượng Khmer Đỏ có khả năng chiếm Phnom Penh đã trở nên rõ ràng.  Được sự cho phép của chính phủ Campuchia, World Vision đưa 20 trẻ em từ Phnom Penh sang Thái Lan, rồi từ đó đến California, Hoa Kỳ.  Vì World Vision không phải là tổ chức được cấp giấy phép cho nhận con nuôi tại California, họ trao lại quyền giám hộ của cả 20 trẻ em này cho Family Ministries với chỉ dẫn là chỉ cho các gia đình Cơ Đốc nhận nuôi các trẻ em này. 

Family Ministries phục vụ một cộng đồng Cơ Đốc Cải Chính truyền giáo (evangelical Protestant) và theo họ, Công Giáo (Catholics), Anh Giáo (Anglican/Episcopalians), Do Thái Giáo (Jews), Mormon, Sabath (Seventh Day Adventists) và Phật Giáo (Buddhists) không được coi là Cơ Đốc Cải Chính truyền giáo. 

Richard Scott, một trong các bác sỹ đến đón 20 em người Campuchia tại sân bay Los Angeles khi họ đến Hoa Kỳ.  Ông Scott khám cho Toup Ven, một em trong số đó, và nhận thấy em có sức khỏe bình thường.  Khi Toup Ven được đưa lên xe buýt, em bị đập đầu vào cửa xe và bị vỡ đầu.  Bác sỹ Scott chăm sóc cho Toup Ven tại bệnh viện.  Sau đó, bác sỹ Scott và gia đình yêu quý Toup Ven và liên hệ với Family Ministries để xin nhận nuôi em.  Family Ministries trả lời rằng vì gia đình bác sỹ Scott theo Anh Giáo, theo họ, không phải là Cơ Đốc Cải chính truyền giáo, nên họ không thể để cho gia đình ông bác sỹ nhận nuôi Toup Ven. 

Ngày 25 tháng 4 năm 1975, vợ chồng bác sỹ Scott đại diện cho chính mình và đại diện cho Toup Ven kiện Family Ministries vì Family Ministries đã áp đặt niềm tin của mình lên người khác. 

Tòa Án Phúc Thẩm đồng ý với tòa sơ thẩm cho vợ chồng bác sỹ Scott thắng kiện vì theo luật pháp California, "trẻ em sẽ được cho nhận nuôi bởi bố mẹ nuôi có cùng niềm tin tôn giáo giống với chúng hoặc của bố mẹ đẻ."  Tòa án mặc dù không xác nhận được niềm tin tôn giáo của Toup Ven nhưng vì con số thống kê cho thấy 92% người dân Campuchia lúc đó theo Phật Giáo, cho nên việc Family Ministries áp đặt hạn chế cho bố mẹ nhận con nuôi phải là Cơ Đốc Cải Chính truyền giáo là vi phạm luật.  Đó là lý do mà Tòa Án Phúc Thẩm đồng ý tước Family Ministries khỏi mọi quyền giám hộ với cả 20 trẻ em Campuchia đó! 

Ở đây, khoan nói về góc nhìn giáo lý khi Family Ministries không coi Anh Giáo hay Công Giáo là Cơ Đốc Cải Chính truyền giáo hay giáo lý nào mới đúng.  Chỉ xét từ khía cạnh giải quyết tranh chấp giữa những Cơ Đốc Nhân.  Dù ai có thắng vụ kiện thì thân thể của đấng Christ cũng đã bị phá hoại!  Với phán quyết này của tòa, các tổ chức nhận con nuôi Cơ đốc trên toàn California thực sự gặp khó khăn khi muốn tìm cặp bố mẹ cơ đốc để xin nhận con nuôi.   


Kết quả của phán quyết này, là quyền giám hộ đối với cả 20 trẻ em Campuchia này được giao lại cho cơ quan hành chính hạt Los Angeles và họ có toàn quyền lựa chọn bố mẹ nuôi cho các em, và niềm tin tôn giáo sẽ không còn là một tiêu chí để lựa chọn bố mẹ nuôi nữa.  Mục tiêu tìm bố mẹ nuôi cho các em với đức tin Cơ Đốc của Family Ministries và World Vision vì thế mà hoàn toàn thất bại.  Việc khác biệt về giáo lý giữa gia đình bác sỹ Scott hoàn toàn đã có thể giải quyết qua thương lượng nếu hai bên thực sự chia sẻ nguyên tắc trong I Cô-rinh-tô 6:1-11 và Ma-thi-ơ 18:15-20.  

Thứ Bảy, 13 tháng 9, 2014

Sao các anh dám kiện nhau

Gần đây, tôi đọc một bài viết của luật sư Samuel E. Ericsson viết từ năm 1987 về chủ đề tranh tụng giữa những Cơ Đốc Nhân và tôi muốn chia sẻ một phần bài viết đó với các bạn đọc của blog này. 


Phương pháp giải quyết tranh chấp của đấng Christ được nêu rõ nhất tại I Cô-rinh-tô 6:1-11 và Ma-thi-ơ 18:15-20.  Nhưng thật đáng tiếc, Cơ Đốc Nhân không phải lúc nào cũng tuân thủ theo những hướng dẫn này.  Tôi nhớ lần đầu tiên đọc I Cô-rinh-tô 6:1-11 với tư cách một luật sư.  Sứ đồ Phao-lô trách những Cơ Đốc Nhân ở thành Cô-rinh-tô rằng: "Sao các anh em dám kiện nhau!"  Đối với người kiếm sống bằng nghề kiện tụng, câu nói đó cắt đúng vào tim.  Vì thế tôi kiểm tra kỹ lại xem Phao-lô thực sự có ý gì.  Tôi đã nghiên cứu cả bản tiếng Hy lạp và điều Phao-lô muốn nói đúng là "Sao các anh em dám kiện nhau!"  Quan tâm chính của Phao-lô là thân thể của đấng Christ chính là lời chứng tốt lành cho những người chưa tin. 

Trong câu 7, Phao-lô tiếp lời, "Sao chẳng thà bị đối xử bất công đi? Sao chẳng thà chịu bị lừa gạt đi?" Đối với suy nghĩ luật sư của tôi, từ "bất công" và "lừa gạt" nói đến hai vấn đề thiệt hại hoàn toàn khác nhau.  Một người có thể bị đối xử một cách bất công do sự vô ý của người khác.  Nhưng lừa gạt lại là một hành động có chủ đích.  Do vậy, cho dù do vô ý hay có chủ đích, Phao-lô muốn nói rằng thà chịu thiệt một cách riêng tư còn hơn là hủy hoại danh Đấng Christ trước công chúng. 


Trong Ma-thi-ơ 18:15-20, Chúa Giê-xu đã lập ra nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn cho những Cơ Đốc Nhân.  Bước 1: nói chuyện với người kia một cách riêng tư về vấn đề mâu thuẫn - một người với một người.  Bước 2: nếu cuộc gặp riêng đó không đem lại hòa giải, hãy nói chuyện lại với người đó một lần nữa dưới sự chứng kiến của một hoặc hai nhân chứng có thể làm chứng xác minh sự thật.  Bước 3: nếu buổi gặp thứ hai cũng không đưa đến sự hòa giải, đưa vấn đề này ra trước Hội thánh để cùng giải quyết.  Bước 4: nếu Hội thánh sau khi nghe xong, cũng không hòa giải được, và một người không đồng ý với quyết định của Hội thánh, và chỉ trong trường hợp đó, người đó sẽ bị coi là người ngoại (dứt phép thông công).  Nguyên tắc ở đây là trong tất cả các bước, mục tiêu xuyên suốt là hòa giải giữa các bên.  Hội thánh phải hành động một cách có trách nhiệm, hành xử để bảo vệ tính chính trực của nhiệm vụ mà Chúa đã ủy thác cho chúng ta.  Chỉ có thông qua công việc của Đấng Christ trong Hội thánh mà các mâu thuẫn có thể được giải quyết một cách thành công. 

Vài năm trước, hội thánh mà tôi đi nhóm xây dựng một cơ sở mới trị giá 2,3 triệu USD.  Hội thánh có một hợp đồng "chìa khóa trao tay", có nghĩa là bên nhà thầu xây dựng sẽ có trách nhiệm với tất cả mọi khoản chi phí phát sinh.  Để chốt mức giá này, hội thánh đã thanh toán một khoản tiền đặt cọc khá lớn. 

Trong khi đang thi công, một khoản phí 180.000 USD phát sinh.  Mâu thuẫn nảy sinh, và mục sư tuyên bố với các tín hữu là ban chấp sự sẽ gặp với nhà thầu xây dựng, cũng tự nhận là Cơ Đốc Nhân.  "Nếu chúng ta không giải quyết được việc này," mục sư nói, "có lẽ chúng ta sẽ ra tòa."  Sau thông báo, tôi xin phép trưởng ban chấp sự được tham gia buổi họp với tư cách người quan sát.  Trong buổi họp đó, tôi lắng nghe hơn một tiếng rưỡi hai bên thương thảo về khoản phát sinh 180.000 USD.  Thực tế là hai bên đều đã cố gắng với thiện chí.  Không có dấu hiệu gì về việc cố tình làm trái, nhưng vấn đề 180.000 USD vẫn còn đó.  Cả hai bên đều có cơ sở pháp lý.  Vậy họ nên làm gì? 

Tôi dần nhắc cho mọi người về I Cô-rinh-tô 6:1-11, "Sao các anh em dám kiện nhau!"  Trong vòng một tiếng rưỡi tiếp theo, hội thánh đã đồng ý sẽ trả thêm 70.000 USD, và nhà thầu xây dựng sẽ chịu lỗ 110.000 USD.  Giáo sư dạy tôi ở trường luật chắc hẳn đã tự hào.  Chỉ một tiếng rưỡi đã giải quyết xong một mâu thuẫn mà không cần phải kiện tụng; thật là tuyệt. 

Nhưng công việc của tôi vẫn còn dang dở.  Công việc phân chia đúng sai thì tòa án nào cũng làm được, nhưng thường thì họ mất đến bảy năm để thực hiện.  Hơn nữa, rõ ràng là cả hai bên đều không vui vì bị mất tiền.  Đại diện nhà thầu nói "Cộng sự của tôi và tôi bay từ Michigan đến để ngồi thương lượng mặt đối mặt với các vị vì chúng tôi cũng không muốn phải qua luật sư." 
Tôi hỏi "Chi phí các ông bay đến đây là bao nhiêu?"

"610 USD, 305 USD cho mỗi người," ông ấy nói. 

Tôi rút quyển séc ra và viết một tờ séc 610 USD và đưa cho ông ấy. 

Ông ta hỏi "Cái này để làm gì?"

Tôi trả lời, "Kinh Thánh dạy rằng khi một thành viên của thân thể chịu khổ, tất cả chúng ta cùng chịu khổ.  Các ông vừa chịu lỗ 110.000 USD; hội thánh thì bị mất 70.000 USD.  Việc nhỏ nhất tôi có thể làm là chia sẻ một phần sự mất mát đó với các ông, vì tôi tin rằng các ông đều làm việc có thiện chí." 

Sau khi nghe tôi giải thích, người đại diện của nhà thầu viết tên ông ấy và chuyển lại tờ séc làm tiền dâng hiến cho hội thánh.  Theo tôi, ông ấy vừa mất 110.610 USD, trong đó 110.000 USD để giải quyết tranh chấp và 610 USD để hàn gắn mối quan hệ! 



Sam Ericsson cũng kể lại câu truyện này trong bài giảng tại trường Master's College trong đường link trên đây.  Các bạn có thể nghe lại bài giảng khi có thời gian.  

Luật sư Samuel E. Ericsson

Samuel E. Ericsson tốt nghiệp đại học University of Southern California năm 1966, lấy bằng luật tại Harvard Law School năm 1969.  Khi viết bài báo mà tôi trích dẫn ở trên, Sam Ericsson là luật sư hợp danh của một công ty luật lớn ở Los Angeles, California, Hoa Kỳ chuyên về tranh tụng thương mại.  Ông đồng thời giữ chức Giám đốc Cao cấp của tổ chức luật sư Cơ đốc, Christian Legal Society với 4,500 thành viên.  Trong suốt thập niên 1980, Sam Ericsson viết hơn 50 đơn đề nghị gửi lên Tòa Án Tối Cao Hoa Kỳ về các vấn đề liên quan đến quan hệ chính phủ - hội thánh.  Năm 1991, Sam Ericsson sáng lập tổ chức Advocate International, mạng lưới liên kết luật sư, thẩm phán với hơn 30,000 thành viên trên 150 quốc gia.  Sam Ericsson qua đời năm 2011 sau 11 năm chống trọi với căn bệnh ung thư.