Hiển thị các bài đăng có nhãn nhân chứng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhân chứng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 24 tháng 5, 2014

Lời trăn trối

"Lạy Chúa, xin đừng quy tội nầy cho họ!" - Công vụ 7:60


Trong luật về sử dụng chứng cứ tại tòa án Mỹ, những lời trăn trối[1] của nhân chứng đã qua đời sẽ được coi là lời chứng hợp pháp.  Khái niệm lời trăn trối lần đầu tiên được giới thiệu vào hệ thống luật Mỹ bởi luật sư trẻ John Adams khi bảo hộ cho một nhóm binh sỹ Anh năm 1770 liên quan đến Cuộc Thảm Sát Boston.  Khi bào chữa cho nhóm binh sỹ Anh, John Adams đã biện hộ để lời nói của Patrick Carr, một nạn nhân của cuộc thảm sát, nói với bác sỹ điều trị khi Patrick Carr tin rằng mình sắp qua đời vì vết thương của những binh sỹ Anh.  Bác sỹ thuật lại lời của Patrick Carr rằng ông ta tha thứ cho người lính đã bắn mình vì người lính đó chỉ nổ súng để tự vệ.  Khi lời của Patrick Carr được chấp nhận trước tòa, những binh sỹ Anh được giảm từ tội giết người xuống thành tội ngộ sát. 


Để lời biện hộ của mình được chấp nhận, John Adams đã vận dụng một khái niệm luật án lệ ở Anh được chấp nhận sớm nhất từ năm 1202:

"Một con người sẽ không đi gặp Đấng Sáng Tạo với lời nói dối trong miệng.[2]"

Khi một con người phải đối diện với cái chết cận kề và người đó tin rằng mình không thể qua khỏi, thì mọi lời anh ta trăn trối sẽ được coi là lời nói có tính xác thực nhất.  Không chỉ ở văn hóa phương Tây mới đề cao giá trị của lời trăn trối, từ thời Tam Quốc đã ghi lại câu nói của Đào Khiêm:

"Con chim sắp chết nói lời bi thương, người sắp chết nói lời thật lòng.[3]"

Tiên tri Ê-tiên (Stephen) được Kinh Thánh ghi lại là người đầu tiên tử vì đạo.  Ê-tiên là người đầy đức tin và ân tứ Thánh Linh, bài giảng của ông cũng rất mạnh mẽ, nhưng khi vừa kết thúc bài giảng, dân chúng nổi giận ném đã ông đến chết.  Mặc dù sự nghiệp của Ê-tiên rất ngắn ngủi, nhưng sự chết của Ê-tiên nhắc nhở chúng ta về lời của Chúa Giê-xu là thế gian đã bắt bớ Chúa Giê-xu như thế nào thì những người theo Chúa cũng sẽ bị bắt bớ như vậy.  Trước khi trút hơi thở cuối cùng, cũng giống như Chúa Giê-xu, Ê-tiên cầu xin với Đức Chúa Trời hãy tha thứ cho tội lỗi của những người bắt bớ.  Lời trăn trối của Ê-tiên cho thấy việc ông trông cậy hết lòng vào kế hoạch tốt đẹp của Đức Chúa Trời và sự tể trị tối cao của Ngài. 

Việc Ê-tiên đối diện với sự chết cũng là một lời nhắc nhở với chúng ta ngày nay.  Trên chặng đường bước đi theo Chúa, có những lúc khó khăn, bắt bớ xảy đến, đó là những điều Chúa cho phép xảy ra.  Dù chúng ta có biết ý định của Chúa trên đời sống của chúng ta hay không thì hãy vững chí rằng mọi sự hợp lại đều làm cho danh Đức Chúa Trời được tôn vinh. 



[1] Dying declaration
[2] A man will not meet his Maker with a lie in His Mouth hoặc No one on the point of death should be presumed to be lying ("Nemo moriturus praesumitur mentiri")
[3] Khi biết mình bệnh nặng sắp chết và quân tướng của mình không đủ sức giữ thành Từ Châu khỏi sự xâm lược của Tào Tháo, Đào Khiêm đã quyết dâng thành Từ Châu cho Lưu Bị.  

Thứ Bảy, 19 tháng 4, 2014

Nhân chứng về sự sống lại và sự hằng sống


Chúa Nhật này, chúng ta kỷ niệm sự phục sinh trong vinh quang của Chúa Giê-xu.  Kinh Thánh cho chúng ta biết đến ngày thứ ba từ ngày Thứ Sáu Tốt Lành, Ngài sống lại, Chúa Giê-xu hiện ra cho các môn đồ, ăn uống, thông công với họ. 

Trong suốt mục vụ của mình, Chúa Giê-xu không viết bất kỳ cuốn sách, cuốn kinh nào để đưa ra các nguyên tắc, căn cứ cơ bản cho tôn giáo của mình.  Chúa Giê-xu cũng không xây dựng bất kỳ một cơ sở thờ  phượng nào.  Trong Kinh Thánh, và qua nghiên cứu của nhà sử học Josephus[1], có những lúc Chúa Giê-xu có đến hàng ngàn tín đồ đi theo để được nghe Ngài giảng dạy, chữa bệnh và đuổi quỷ, nhưng Chúa Giê-xu không tập trung vào họ.  Thay vào đó, Chúa Giê-xu chọn ra nhóm Bảy Mươi Hai Môn Đồ, và trong bảy mươi hai người đó, Chúa lại tiếp tục chọn lấy Mười Hai Môn Đồ. 

Những môn đồ là người gần gũi nhất với Chúa Giê-xu, họ cùng sinh hoạt và luôn luôn quan sát mọi lời giảng dạy và hành động của Ngài.  Luật pháp Do Thái cổ đại[2] và chế độ pháp lý hiện đại ngày nay rất nhấn mạnh vào tầm quan trọng của nhân chứng (eyewitness).  Lời khai của nhân chứng là chứng cứ có giá trị quan trọng nhất trước tòa.  Để một người được coi là nhân chứng thì người đó phải là người chính mắt nhìn thấy sự việc đã diễn ra. Do đó, các môn đồ cũng chính là nhân chứng quan trọng nhất về cuộc đời, mục vụ, sự giảng dạy, sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu. 

Trong bốn người viết phúc âm, Luca không phải trong số những môn đồ đầu tiên, mà ông là bác sỹ, cộng sự của Phao-lô[3].  Ngay ở đầu phúc âm Luca, ông nói rõ là những gì được ghi chép lại là do ông điều tra và nghiên cứu một cách cặn kẽ.  Một điều đặc biệt hơn nữa là Luca cũng là tác giả của sách Công Vụ.  Khi đọc sách Luca cùng với sách Công Vụ, chúng ta sẽ thấy một sự xuyên suốt và thống nhất.  Sách Luca kết thúc bằng việc Chúa Giê-xu thăng thiên và sách Công Vụ bắt đầu cũng bằng sự kiện đó, trong thời khắc cuối cùng đó, Chúa Giê-xu phán với các môn đồ rằng họ chính là những nhân chứng về Ngài và họ phải đi làm chứng về Ngài trên khắp đất[4]. 

Ngay sau khi Chúa Giê-xu thăng thiên, Đức Thánh Linh được giáng xuống và Đức Thánh Linh vẫn hành động trên đất đến ngày nay.  Giống như Luca, có thể chúng ta không được tận mắt chứng kiến những công việc của Chúa Giê-xu đã làm khi Ngài còn ở trên đất, nhưng nếu chúng ta mở con mắt thuộc linh thì Đức Thánh Linh sẽ cho chúng ta thấy những công việc kỳ diệu mà Ngài đã và đang thực hiện.  Chúa của chúng ta đã sống lại và Ngài đang sống.  Hãy bước vào mỗi quan hệ với Ngài để bạn được là nhân chứng của những công việc tuyệt với Ngài đang thực hiện trên đời sống của chính bạn và những người xung quanh. 




[1] Ông là người Do Thái sống vào nửa cuối của thế kỷ I.  Ông là một nhà sử học hoàn toàn độc lập, và không liên quan đến Chúa Giê-xu, các môn đồ hay hội thánh đầu tiên.    
[2] Phục truyền luật lệ ký 19:15-20
[3] Cô-lô-se 4:14 và II Ti-mô-thê 4:11 và Phi-lê-môn 1:24
[4] Luca 24:48 và Công Vụ 1:8