Hiển thị các bài đăng có nhãn Cơ Đốc Nhân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Cơ Đốc Nhân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2014

Tại sao Cơ đốc nhân truyền giáo ủng hộ Israel

Một tháng nữa, ngày 17 tháng 12[1], là lễ Chanukkah hay Hanukkah, có lẽ là ngày lễ nổi tiếng nhất của người Do Thái tại các quốc gia Bắc Mỹ và Tây Âu.  Sự nổi tiếng và quen thuộc của ngày lễ này với những người ngoài cộng đồng Do Thái không phải vì tầm quan trọng về ý nghĩa tôn giáo của nó nhưng vì việc nó thường được tổ chức trong dịp Cơ đốc nhân kỷ niệm Lễ Giáng Sinh.  Có lẽ đây cũng là dịp tiện để chia sẻ với các bạn bài diễn thuyết của Tiến sỹ, mục sư M. G. "Pat" Robertson trước các lãnh đạo nhà nước Israel với chủ đề "Tại sao Cơ đốc nhân Truyền giáo ủng hộ Israel"[2]. 

Ngôi sao Đa-vít, biểu tượng trên lá cờ tổ quốc của nhà nước Israel

Một ngày cuối thế kỷ 19, Nữ hoàng Victoria của Nước Anh hỏi thủ tướng Anh lúc đó, Benjamin Disraeli[3] rằng: "Theo ông, có chứng cứ nào để chứng minh sự tồn tại của Đức Chúa Trời?"

Disraeli nghĩ một lát và trả lời: "Dân Do Thái, thưa nữ hoàng."

Khi suy ngẫm lại, theo Disraeli, chứng cứ cơ bản về sự tồn tại của Đức Chúa Trời chính là sự tồn tại của người Do Thái ... một dân tộc mà năm 586 Tr.C, đã bị đưa đi lưu đày ở Ba-by-lon, nhưng được đưa về sau 70 năm để tái thiết lại đất nước.  Họ lại bị thảm sát một cách tàn khốc và làm cho tan lạc bởi người La Mã năm 70 S.C, nhưng sau hơn chục thế kỷ bị tản lạc, bị trục xuất, bị tàn sát bởi Nga hoàng, Đức Quốc Xã, và bao nhiều các âm mưu diệt chủng khác, họ vẫn giữ vững đức tin, truyền thống - và ngày nay, sau 2,500 năm lưu lạc, đã trở về miền đất được Đức Chúa Trời hứa ban cho tổ phụ của họ.  Một quốc gia mới bắt đầu trên mảnh đất này năm 1948 được đặt theo tên của Gia-cốp, tổ phụ của họ, người mà được Đức Chúa Trời đặt tên lại là I-sơ-ra-ên (Israel), nghĩa là "Hoàng tử của Đức Chúa Trời[4]."  Để làm ứng nghiệm những lời tiên tri cổ đại, Đức Chúa Trời đã cảm động lòng của Eliezer Ben-Yehuda[5], được con trai Ehud của ông thuật lại với tôi rằng, khi cha ông còn sống ở Đông Âu, ông nghe tiếng phán và nhìn thấy ánh sáng hướng dẫn ông mang lại cho người Do Thái một ngôn ngữ thuần khiết, tiếng Hê-bơ-rơ, ngôn ngữ của Torah[6] và các tiên tri cổ đại. 

Đúng vậy, sự tồn vong của người Do Thái là phép lạ của Đức Chúa Trời.  Việc người Do Thái quay về miền đất được hứa ban cho Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp là phép lạ của Đức Chúa Trời.  Các chiến thắng ấn tượng của quân đội Do Thái trước mọi kẻ thù trong các cuộc chiến tranh năm 1948, 1967 và 1973 rõ ràng là phép lạ của Đức Chúa Trời.  Những thành quả công nghệ kỳ diệu của nền công nghiệp Israel, sức mạnh quân sự, sự phồn thịnh của nền nông nghiệp Israel, hoa trái và sự tươi tốt của mảnh đất này là lời chứng về sự quan tâm, săn sóc của Đức Chúa Trời đối với quốc gia mới này và sự khôn ngoan trời phú của những con người này.  Nhưng những gì đang xảy ra đều đã được báo trước bởi lời của tiên tri Ê-xê-chi-ên với người Do Thái trong thời kỳ bị lưu đày ở Ba-by-lon: 

               "Ta sẽ đưa các ngươi ra khỏi các dân; Ta sẽ nhóm họp các ngươi về từ mọi nước và Ta sẽ đem các ngươi trở về đất nước của các ngươi. ...  Ta sẽ ban cho các ngươi một tấm lòng mới và đặt một tâm linh mới trong các ngươi... khiến các ngươi vâng theo các luật lệ Ta và cẩn thận vâng giữ các mạng lệnh Ta.  Các ngươi sẽ được sống trong đất Ta đã ban cho tổ phụ các ngươi, rồi các ngươi sẽ làm dân Ta và Ta sẽ làm Đức Chúa Trời của các ngươi.  Ta sẽ cứu các ngươi ra khỏi mọi sự ô uế của các ngươi. 
               "Ta sẽ truyền cho ngũ cốc để chúng gia tăng sản lượng... Ta sẽ làm cho cây ăn quả của các ngươi sai trái và ruộng rẫy của các ngươi luôn được mùa, để các ngươi không bao giờ bị khổ nhục vì nạn đói trước mặt các dân nữa. ...  CHÚA Hằng Hữu phán, "Trong ngày Ta sẽ tẩy sạch khỏi các ngươi mọi tội lỗi của các ngươi, Ta sẽ làm cho các thành phố của các ngươi có người ở, những nơi đổ nát sẽ được xây dựng lại.  Những đất đai bị bỏ hoang sẽ được cày cấy, thay vì cứ bị bỏ hoang trước mắt những kẻ qua lại.  Họ sẽ nói "Đất này lâu nay bị bỏ hoang, mà bây giờ đã trở nên như cảnh vườn Ê-đen; những thành vốn điêu tàn, hoang vắng, và đổ nát, bây giờ có đông người ở và trở nên hùng cường.""
               Khi ấy các dân còn sót lại đang sống chung quanh các ngươi sẽ biết rằng Ta, CHÚA, đã xây dựng lại những nơi đổ nát và trồng trọt lại những ruộng đất đã bị bỏ hoang.  Ta, CHÚA, đã phán như thế, và Ta sẽ làm như thế." (Ê-xê-chi-ên 36:24-36).

Cơ đốc nhân truyền giáo ủng hộ Israel vì chúng ta tin tin rằng những lời của Môi-se và các tiên tri cổ đại được Đức Chúa Trời truyền cảm hứng.  Chúng ta tin vào việc hình thành nhà nước Israel trên miền đất đã được Đức Chúa Trời hứa cho Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, và được Đức Chúa Trời xức dầu.  Chúng ta tin rằng Đức Chúa Trời có kế hoạch dùng đất nước này là nguồn phước cho các nước trên khắp cả thế giới. 

Tất nhiên, chúng ta, cũng như mọi người có tri thức, ủng hộ Israel vì Israel là ốc đảo dân chủ, ốc đảo tự do cá nhân, ốc đảo về sự tôn trọng luật pháp, và một ốc đảo về sự hiện đại trong một biển các chế độ độc tài, sự đàn áp tự do cá nhân, và ý chí tôn giáo muốn quay trở lại xã hội phong kiến Ả-rập thế kỷ 8. 

Những thực tế về đất nước Israel hiện đại đều là sự thật.  Nhưng chỉ những phát biểu chính trị không thôi là chưa đủ để thể hiện hết những nhiệt huyết dành cho Israel ở trong lòng của hàng trăm triệu Cơ đốc nhân truyền giáo. 

Quý vị phải nhận ra rằng Đức Chúa Trời, đấng đã phán với Môi-se trên núi Sinai là Đức Chúa Trời của chúng ta.  Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia cốp là các Tổ phụ thuộc linh của chúng ta.  Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên, và Đa-ni-ên là những vị tiên tri của chúng ta.  Vua Đa-vít, người vừa lòng Chúa, là anh hùng của chúng ta.  Giê-ru-sa-lem thánh là thủ đô thuộc linh của chúng ta.  Việc người Do Thái tiếp tục duy trì chủ quyền trên miền Đất Thánh là bằng chứng cho chúng ta về việc Đức Chúa Trời của Kinh Thánh thực sự tồn tại và Lời Ngài là lẽ thật. 

Và chúng ta lưu ý rằng Cơ đốc nhân truyền giáo ngày nay đang hầu việc một người Do Thái mà chúng ta tin rằng Ngài chính là Đấng Mê-si của Israel được các tiên tri cổ đại nhắc đến, và Ngài cũng giao nhiệm vụ truyền giao sứ mạng cứu rỗi đến thế giới qua mười hai môn đồ người Do Thái. 

Chúng ta biết rằng Cơ đốc giáo ngày nay với hơn 2 tỷ tín đồ, là tôn giáo phát triển nhanh nhất thế giới.  Chỉ trong vòng 20 năm nữa, con số này sẽ tăng lên 3 tỷ.  Trong số đó, ít nhất 600 triệu là những Cơ đốc nhân truyền giáo và đầy rẫy thuộc linh, tin vào Kinh Thánh, và ủng hộ nhà nước Israel.  Trong 20 năm nữa, con số này sẽ tăng lên 1 tỷ.  Israel có hàng triệu người bạn Cơ đốc nhân ở Trung Quốc, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, trên khắp Châu Phi và Nam Mỹ, cũng như Bắc Mỹ. 

Chúng tôi sát cánh trong cuộc đấu tranh của các bạn.  Chúng tôi ở cùng các bạn khi ngọn sóng bài trừ Do Thái đang dâng lên trên toàn thế giới.  Chúng tôi ở cùng các bạn bất kể mối đe dọa của nhóm Thánh chiến Wahabi, nhóm khủng bố Hezbollah, và những kẻ ám sát Hamas.  Chúng tôi sát cánh với các bạn bất chấp các lệnh cấm vận dầu mỏ, mất đồng minh, và các vụ tấn công khủng bố trên các thành phố của các bạn. 

Chúng tôi, những Cơ đốc nhân truyền giáo nói với những người bạn Israel rằng "Hãy để chúng tôi cùng hầu việc Đức Chúa Trời của chúng ta bằng cách chống lại nọc độc của chủ nghĩa bài Do Thái và bài Si-ôn đang dâng trào trên toàn thế giới."  Sau khi khẳng định cam kết ủng hộ của mình, tôi muốn đề đạt hai vấn đề với những người bạn Do Thái:

Thứ nhất, xin đừng tự phá hủy quốc gia mình.  Nếu các bạn chủ đích phá hủy quốc gia mình, thì sẽ rất khó cho những người bạn như chúng tôi ủng hộ các bạn. 

Chắc tôi không cần phải nhắc lại cho các khán giả tại đây mục đích của Yasser Arafat, PLO, Hamas, Hezbollah và nhóm Thánh chiến Hồi giáo.  Mục tiêu của họ không phải là hòa bình, nhưng là sự hủy diệt hoàn toàn của Nhà nước Israel.  Chưa bao giờ họ và các đồng minh của họ trong thế giới Hồi giáo công nhận quyền tự chủ của Israel đối với bất kỳ tấc lãnh thổ nào ở Trung Đông.  Nếu một nhà nước Palestine được hình thành trong lòng Israel với quyền tự chủ để thành lập quân đội, nhập vũ khí hiện đại, thậm chí cả những vũ khí hủy diệt hàng loạt, và được hoạt động hoàn toàn bí mật và có quyền miễn trừ ngoại giao, khả năng phòng vệ của Nhà nước Israel sẽ bị giảm sút nghiêm trọng. 

Thông điệp "đổi đất lấy hòa bình" là một ảo tưởng viển vông. Vùng Sinai đã bị mất.  Nó có đem lại hòa bình vĩnh viễn không?  Không.  Miền Nam Liban đã mất.  Nó có đem lại hòa bĩnh vĩnh viễn không?  Không.  Mặt khác, Hezbollah đưa xe tăng tới biên giới Israel và hô hào "Vào Giê-ru-sa-lem!"  Ngày nay, có đến 10,000 tên lửa đã bắn vào Metulla, Qiryat, Shemona, và toàn miền bắc Israel xuất phát từ lãnh thổ Miền Nam Liban.  Arafat được trưởng dưỡng bởi người đã thề sẽ hoàn tất công việc của Adolf Hitler.  Làm sao để một người theo chủ nghĩa hiện thực có thể tin rằng kẻ sát nhân này và các cộng sự của hắn có thể trở thành đồng minh hòa bình được? 

Tôi hiểu sâu thẳm trong tim nhiều người Israel muốn hòa bình, muốn được tự do khỏi những nỗi sợ khủng bố của những kẻ đánh bom cảm tử.  Tôi muốn lưu ý các bạn về sự kiện trong Chiến tranh Lạnh, người dân Hoa Kỳ cũng muốn được tự do khỏi nỗi ám ảnh hủy diệt hạt nhân.  Khi đó, tại Reykjavik, Ai-xơ-len, trong một cuộc hội đàm giữa Tổng thống Ronald Reagan của Hoa Kỳ và Chủ tịch Mikhail Gorbachev của Liên Xô, một cơ hội tuyệt vời cho hòa bình được cả Tổng thống Reagan và Gorbachev xem xét.  Lời đề xuất về việc cắt giảm vũ khí hạt nhân không tưởng được đưa ra.  Lời đề xuất của Gorbachev bao gồm tất cả mọi điều khoản mà phái đoàn đàm phán về vũ khí của Hoa Kỳ muốn, ngoại trừ một điều khoản.  Điều kiện của phía Liên Xô là Hoa Kỳ phải từ bỏ Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược, hay còn gọi là "chiến tranh giữa các vì sao".  

Tổng thống Reagan xem xét một cách cẩn thận lời đề xuất và thẳng thừng từ chối.  Nếu không có Sáng kiến Phòng thủ Chiến lược, sẽ không đạt được thỏa thuận.  Gorbachev sững sờ.  Cả hai nhà lãnh đạo, với nỗi buồn trong lòng, kết thúc cuộc hội đàm và rời Reykjavik.  Một lần nữa, thế giới đối mặt với nguy cơ hủy diệt hạt nhân.  Các báo chí tự do Mỹ chỉ trích quyết định của Reagan.  Nhưng, ông ấy giữ vững quan điểm. 

Ngày nay, chúng ta đều biết rằng ông ấy đã đúng.  Người Nga không thể cạnh tranh được với Hoa Kỳ trong cuộc chạy đua vũ trang và Gorbachev đã biết điều đó.  Khi sự hăm dọa kết thúc, mối hiểm họa cũng qua, Reagan đã thắng lợi bằng việc đứng vững.  Không lâu sau, sự tự do bùng nổ ở Ba Lan, Hung-ga-ri, và Đông Đức.  Bức tường Béc-lin sụp đổ.  Những hàng rào thép gai bị dỡ bỏ. 

Thế giới được bảo vệ khỏi nỗi sợ hạt nhân.  Nỗi sợ này không còn nữa khi một người lãnh đạo mạnh mẽ đứng vững, bất chấp ý kiến của công chúng, ngược lại với lời khuyên của rất nhiều cố vấn và nói không!  Mong rằng các nhà lãnh đạo của Israel trong năm 2004 sẽ có sự quả cảm khi nhìn thẳng vào mắt các quốc gia trên thế giới và nói không khi lợi ích quốc gia của các bạn cần điều đó! 

Thứ hai, Cơ đốc nhân trên thế giới đề nghị các bạn không từ bỏ những biểu tượng quý giá từ các di sản thuộc linh của các bạn. 

Gần đây tôi đọc bài viết của một nhà bình luận Mỹ gốc Do Thái trên Tạp chí Phố Wall (Wall Street Journal) nói rằng Núi Đền Thờ và "Bức tường Than khóc" là những địa danh và những hòn đá thiêng liêng nhưng không đáng phải đổ máu. 

Hãy thử suy nghĩ xem, Israel là nơi mà tổ phụ Áp-ra-ham đưa Y-sác đến dâng làm của lễ cho Đức Chúa Trời.  Nơi được Vua Đa-vít mua lại từ A-rau-na, nơi mà thiên sứ của Đức Chúa Trời đã đứng với lưỡi gươm trên tay.  Nơi có đền thờ của Sa-lô-môn.  Nơi Chí Thánh.  Nơi Chúa Giê-xu đã đi qua và giảng dạy.  Là trung tâm thuộc linh của người Do Thái thờ phượng Đức Chúa Trời có thật, tất cả những điều này không có giá trị gì và chỉ là một đống đất đá, không đáng phải hy sinh?  Thật là một tuyên bố không thể tin nổi! 

Đừng nhầm lẫn, cả thể giới này bị làm cho hỗn loại bởi các cuộc đấu tranh tôn giáo.  Cuộc chiến không phải vì tiền hay đất đai; nó cũng không chỉ vì sự nghèo đói chống lại sự giàu có; nó cũng không chỉ vì các tập tục hủ lậu chống lại sự hiện đại.  Không, cuộc đấu tranh này là liệu Hubal, thần Mặt trăng của Mecca, hay còn được gọi là Allah, là tối cao, hay liệu Đức Chúa Trời - Đức Giê-hô-va trong Kinh Thánh của Cơ Đốc Giáo - Do Thái giáo mới là tối cao?  

Nếu những người được Đức Chúa Trời chọn lựa giao nộp những địa điểm thiêng liêng nhất cho Allah kiểm soát; nếu họ giao nộp cho những kẻ Hồi giáo phá hoại những khu mộ của Ra-chên, Giô-sép, các Tổ phụ, và các tiên tri cổ đại; nếu họ chỉ tin vào chủ quyền của họ đối với miền Đất Thánh đến từ Công tước Balfour của Nước Anh và Liên Hợp Quốc hơn là những lời hứa của Đức Chúa Trời toàn năng thì, khi đó, Hồi giáo đã thắng trận.  Trên toàn thế giới Hồi giáo, thông điệp này sẽ được giao truyền: "Allah vĩ đại hơn Giê-hô-va.  Những lời hứa của Giê-hô-va cho người Do thái không có giá trị gì.  Ngày nay, chúng ta có thể trong danh Allah, đập tan dân Do Thái và đuổi chúng ra khỏi vùng đất thuộc về Allah." 

Nói tóm lại, những sáng kiến chính trị mà ai đó cho rằng sẽ bảo đảm hòa bình sẽ, thực sự, chỉ bảo đảm được những tranh đấu không ngừng và sự thất bại tuyệt đối.  Những nhà lãnh đạo chỉ hiểu được khía cạnh con người của sự tồn vong của Israel và những người chối bỏ khía cạnh thuộc linh sẽ nhận ra rằng mình đang nhận lấy nồi súp đậu của Ê-sau chứ không phải quyền thừa kế của Gia-cốp. 

Trong Ngày Giáng Sinh năm 1974, tôi đã có dịp phỏng vấn Thủ tướng Yitzhak Rabin cho chương trình truyền hình của tôi, The 700 Club.  Rabin than phiền về việc sau các chiến thắng của quân đội Israel, quốc gia này bị ngăn cản việc đạt được hòa ước. 

Đó là 30 năm về trước, Israel dường như bị cô lập và cô đơn như ngày nay.  Sau khi kết thúc buổi phỏng vấn, tôi hỏi Thủ tướng Rabin câu hỏi cuối cùng: "Ông muốn Hoa Kỳ làm điều gì cho Israel bây giờ?" 

Ông ấy trả lời ngay lập tức.  "Hãy mạnh mẽ lên!  Hãy mạnh mẽ lên!" 

Tối hôm đó, tôi dự bữa tối với một nhóm vài trăm người đã cùng tôi đến từ Hoa Kỳ.  Chúng tôi gặp trong một phòng ăn lớn ở Khách sạn InterContinental trên Đồi Ô-liu tại Giê-ru-sa-lem, từ sàn tới trần có một góc nhìn tuyệt diệu về phía Núi Đền Thờ đã được thắp sáng.  Khi tôi chia sẻ lại với nhóm về nội dung buổi họp báo, tôi dần nhớ lại nỗi buồn của ngài thủ tướng, cảm giác quốc gia bị cô lập.  Tối hôm đó, tôi đã lập một lời thề với Đức Chúa Trời rằng, cho dù điều gì có xảy ra trong tương lai, tôi và tất cả những tổ chức do tôi lãnh đạo sẽ đứng vững ủng hộ Israel và người Do Thái.  Tôi lấy làm tự hào tuyên bố rằng tôi vẫn giữ lời hứa đó kể từ năm 1974. 

Để kết lại, tôi muốn gửi đến Israel của năm 2004 một thông điệp mà Yitzhak Rabin đã gửi đến Hoa Kỳ vào Ngày Giáng Sinh năm 1974, vì các bạn là những nhân chứng sống rằng các lời hứa của Đức Chúa Trời Tối cao là có thật: "Hãy mạnh mẽ lên!  Hãy mạnh mẽ lên!" 

Ngài sẽ ở cùng các bạn và những người bạn truyền giáo cũng sẽ ở cùng các bạn.  Cám ơn, và nguyện Chúa ban phước trên các bạn! 
--------------------
Tiến sỹ, mục sư Pat Robertson

Tiến sỹ, mục sư M.G. "Pat" Robertson thành lập đài truyền hình cơ đốc đầu tiên trên thế giới, Christian Broadcasting Networks (CBN), khi phát sóng lần đầu ngày 1 tháng 10 năm 1961.  Từ số vốn đầu tư ban đầu $70, ngày nay CBN là đài truyền hình phủ sóng trên toàn cầu qua, truyền hình cáp, vệ tinh và mạng internet đến hàng triệu khán giả trên toàn thế giới.  Năm 1978, Pat Robertson thành lập trường Đại học Regent tại thành phố Virginia Beach, bang Virginia, Hoa Kỳ.  Năm 1990, Pat Robertson cũng thành lập công ty luật American Center for Law & Justice (ACLJ) tại Washington, D.C. với mục đích bảo vệ các giá trị của Hiến pháp Hoa Kỳ. 




[1] Ngày 25 tháng Kislev theo lịch Do Thái, vì vậy, ngày chính xác theo dương lịch sẽ thay đổi theo từng năm
[2] Bài diễn thuyết tại Hội Thảo Herzliya, Trường Lauder về Chính phủ, Chính trị và Chiến lược tại Israel ngày 17 tháng 12 năm 2003
[3] Benjamin Disraeli (1804-1881) giữ chức thủ tướng Anh từ năm 1874 đến năm 1880.  Cho đến 2014, Benjamin Disraeli vẫn là thủ tướng Anh duy nhất mang dòng máu Do Thái.  
[4] Sáng thế ký 32:28 theo bản dịch King James
[5] Eliezer Ben-Yehuda (1858-1922) được người Israel ngày nay coi như cha đẻ của nhà nước Israel hiện đại 
[6] Các sách luật pháp của người Do Thái, bao gồm năm sách của Môi-se

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014

Thân thể Đấng Christ

"Anh chị em là thân thể của Ðấng Christ và mỗi người là một chi thể" I Cô-rinh-tô 12:27


Trong thư tín gửi cho hội thánh ở Cô-rinh-tô, Phao-lô liên hệ hình ảnh về hội thánh toàn cầu là thân thể của Đấng Christ và mỗi cá nhân là một chi thể.  Trong các thư tín của mình, Phao-lô chỉ dùng chữ "hội thánh" ("ἐκκλησία" - phiên âm tiếng Anh là ecclesia) chứ không có chữ "nhà thờ".  Chữ ecclesia có nghĩa là hội đồng những người thánh, nói ngắn gọn là hội thánh.  Còn chữ "nhà thờ" (church) là chỉ về một công trình kiến trúc hữu hình, là khái niệm chỉ được các giáo hội sau này sử dụng.  

Tháp Ba-bên, công trình trọc trời đầu tiên của loài người

Trong thời kỳ đầu của lịch sử loài người, sau khi con người hư mất vì tội lỗi, bản thân con người cũng có ước muốn được quay trở lại với Đức Chúa Trời.  Và bằng sức riêng của mình, họ xây tháp Ba-bên với kỳ vọng là sẽ xây cao đến trời!  Nhưng chúng ta đều biết kết cục là dự án tháp Ba-bên hoàn toàn thất bại.  Sau tháp Ba-bên, Kim Tự Tháp Giza ở Ai Cập thống lĩnh ở vị trí công trình cao nhất thế giới suốt 3800 năm cho đến kỷ nguyên Cơ Đốc Giáo phục hưng ở Châu Âu.  Năm 1311, Nhà Thờ Lớn Lincoln (tên khác là Nhà Thờ Lớn Thánh Mary) ở Anh Quốc đoạt ngôi công trình cao nhất thế giới từ Giza và giữ vững danh hiệu này trong suốt 238 năm.  Trong suốt 600 năm tiếp theo, các thành phố lớn ở khắp Châu Âu, từ Anh đến Pháp, Đức đều đua nhau xây dựng những nhà thờ cao hơn, đẹp hơn và cầu kỳ hơn.  Nhà thờ cuối cùng được công nhận là công trình kiến trúc cao nhất thế giới là Ulm Minister ở vùng Bavaria, nước Đức, nóc nhà của thế giới từ khi khánh thành năm 1890 đến khi kỷ lục bị phá vỡ năm 1901.  Thế kỷ 20 cũng đặt dấu chấm hết cho cuộc đua của các nhà thờ trở thành công trình kiến trúc vĩ đại. 

Nhà thờ lớn Pha lê được ghép hoàn toàn bằng các tấm kính và giàn khung thép

Mặc dù cuộc đua của những ngôi nhà thờ trọc trời dường như đã dừng lại, nhưng các ngôi nhà thờ lộng lẫy, xa hoa vẫn không ngừng mọc lên.  Gần đây, tôi có dịp đến Nhà Thờ Ba Ngôi (Trinity Church) ở phố Wall, Manhattan, New York, một ngôi nhà thờ cổ kính xây bằng đá đỏ từ thế kỷ 18 nằm ở khu phố nhộn nhịp nhất thế giới này được tờ tạp chí tài chính hàng đầu, Thời báo New York (New York Times) định giá bất động sản lên đến hơn 42,000 tỷ đồng (2 tỷ USD) theo thời giá năm 2013.  Cũng theo Thời báo New York, nhà thờ này đang bị chia rẽ vì họ không biết nên làm gì với số tài sản khổng lồ họ có.  Trong lúc chưa quyết định được, họ đồng ý nâng lương cho mục sư chủ tọa từ 9 tỷ đồng (475.000 USD) lên 30 tỷ đồng (1.500.000 USD) mỗi năm và tặng cho ông ấy căn nhà trị giá 120 tỷ đồng (5.500.000 USD) do lạm phát!  Nhà Thờ Công Giáo Đấng Christ là Ánh Sáng ở Oakland, CA từ năm 2008 xây dựng cơ sở mới trị giá 2,700 tỷ đồng (130 triệu USD).  Nhà Thờ Baptist Thứ Nhất Dallas ở Dallas, TX cũng đang gây quỹ xây dựng 2,700 tỷ đồng (130 triệu USD) cho một điểm nhóm mới.  Nhà Thờ Lakewood ở Houston, TX cũng mới bỏ ra 1,500 tỷ đồng (75 triệu USD) cho việc... sửa sang.  Gần đây nhất là Nhà Thờ Cảm Hứng Thân Thể Đấng Christ ở Dallas, TX đầu tư một bể cá cảnh nước mặn[1] trị giá hơn 800 tỷ đồng (40 triệu USD).  Câu truyện đáng buồn nhất là Nhà Thờ Lớn Pha Lê ở Quận Cam, CA phải tuyên bố phá sản năm 2010 vì khoản nợ hơn 1,000 tỷ đồng (50 triệu USD), và phần lớn số nợ đó phát sinh từ chi phí xây dựng ngôi nhà thờ gần 3,000 chỗ ngồi toàn bộ bằng kính trang lệ này. 

Mục sư John Yates giảng tại Hội thánh Anh Giáo Falls Church

Trong khi đó, hội thánh Anh Giáo Falls Church, một hội thánh có hơn 4,000 tín đồ ở thành phố Falls Church bang Virginia, quyết định bỏ lại ngôi nhà thờ được xây dựng tuyệt đẹp từ thế kỷ 18 của họ vì sự sụp đổ về giáo lý của Anh Giáo Hoa Kỳ (Episcopal).  Hội thánh Anh Giáo Falls Church là một trong hơn 1,000 hội thánh Anh Giáo Hoa Kỳ đã quyết định rời bỏ giáo hội vì sự suy đồi của giáo hội và cái giá họ phải trả là mất địa điểm nhóm.  Khi quyết định rời bỏ giáo hội Anh Giáo Hoa Kỳ, hội thánh Anh Giáo Falls Church bàn giao lại toàn bộ tài sản gồm đất đai và toàn bộ tài sản khác.  Sau khi rời khỏi ngôi nhà thờ cũ, mục sư John Yates có khải tượng về xây dựng các hội thánh con (daughter churches) thay vì tập trung tại một hội thánh lớn để phát triển. 

Vợ chồng tôi có dịp đến nhóm tại Hội thánh Anh Giáo Phục Hồi (Restoration Anglican Church), một hội thánh con được thành lập với 70 tín hữu, trong 5 năm đã phát triển thành hơn 400 tín hữu!  Thậm chí địa điểm mà ban đầu họ thuê của một hội thánh Baptist đã được họ mua lại và xây dựng mở rộng vì hội thánh Baptist đó không còn đủ tín hữu để duy trì hoạt động và địa điểm đó quá nhỏ cho mục đích phát triển.  Hội thánh Anh Giáo Phục Hồi là một trong 6 hội thánh con phát triển ra từ Hội thánh Anh Giáo Falls Church. 

Hội thánh (ἐκκλησία - ecclesia) chính là trọng tâm của sứ điệp cứu rỗi.  Việc xây dựng hội thánh, hay chính là gây dựng những anh chị em trong thân thể Đấng Christ mới là mục đích sống quan trọng của mỗi Cơ Đốc Nhân.  Đúng là chúng ta cần có địa điểm để nhóm họp, thờ phượng Chúa và chia sẻ đời sống với nhau, nhưng khi việc xây dựng nhà thờ không bao giờ có thể được ưu tiên hơn việc xây dựng hội thánh.  




[1] Dallas là thành phố nằm sâu trong lục địa bang Texas, vùng biển gần nhất cũng phải 5-6 tiếng lái xe.  Việc đầu tư bể cá nước mặn được ông mục sư chủ tọa chia sẻ là được cảm hứng từ hình ảnh Chúa Giê-xu kêu gọi các môn đồ trở thành tay đánh lưới người!  

Thứ Sáu, 26 tháng 9, 2014

Sự kêu gọi làm người hòa giải

"Phúc cho những ai mang lại hòa thuận, vì Đức Chúa Trời sẽ gọi họ là con cái Ngài" Ma-thi-ơ 5:9



Có thể đã có lúc các bạn nghĩ rằng phương pháp hòa giải mâu thuẫn giữa các Cơ Đốc Nhân chỉ có thể áp dụng được với các vấn đề nhỏ? các vấn đề không quan trọng đến tính mạng con người? các vấn đề không phức tạp?  Vậy, hãy xem Đấng Christ đã hòa giải mâu thuẫn giữa Đức Chúa Trời và loài người tội lỗi như thế nào?  Có phải Ngài chỉ gọi các bên đến ngồi lại với nhau, đạt được thỏa thuận, quay về văn phòng, soạn thảo một bản hợp đồng, đưa cho các bên ký và thu phí tư vấn?  KHÔNG, chính Ngài đã trả TẤT CẢ chi phí.  Đó là sự khác biệt giữa hòa giải Cơ Đốc và các phương pháp khác của con người.  Người hòa giải Cơ Đốc là người được gọi để trở nên giống Đấng Christ.  Mọi người liên quan đến tranh chấp vừa phải cố gắng tìm ra sự thật, vừa phải học cách dâng mình như chính Chúa đã dâng mình Ngài cho chúng ta. 

Thư Phi-líp 2:1-8 hướng dẫn cho chúng ta theo sự chỉ dẫn của Chúa bằng cách quan tâm đến lợi ích của người khác hơn là lợi ích của bản thân.  Nghĩ đến lợi ích của người khác, chìa khóa của việc hòa giải, chính là một nguyên tắc sống.  Nhưng liệu lối sống đó có tác dụng? 

Sam Ericsson chia sẻ một trường hợp khác khi mục sư liên hệ với ông về một tình huống có một người phụ nữ 22 tuổi vừa mới sinh một đứa con ngoài giá thú, và đã được cô ấy cho đi làm con nuôi qua sự giúp đỡ của hội thánh.  Lúc đó, mục sư nói với cô gái rằng cô ấy có một năm để thay đổi quyết định trước khi việc nhận con nuôi hoàn tất.  Nhưng thực tế, theo luật của tiểu bang đó, thời gian chỉ là sáu tháng.  Một cách vô tình, vị mục sư kia đã đưa ra một lời tư vấn pháp lý sai. 

Sau sáu tháng, một nhân viên hoạt động xã hội đến với người mẹ trẻ để lấy chữ ký của cô cho thủ tục nhận con nuôi, nhưng cô ấy không đồng ý.  Cô ấy thấy được thuyết phục rằng Chúa muốn cô ấy nuôi đứa bé này.  Nhưng mặt khác, cặp bố mẹ nhận nuôi cũng được thuyết phục rằng đứa trẻ chính là câu trả lời của Chúa cho lời cầu nguyện trong suốt bảy năm qua của họ. 

Luật sư của cả hai bên đều là Cơ Đốc Nhân nên Sam Ericsson gợi ý cho họ rằng thay vì ra tòa, tại sao không đưa vụ việc này ra cho Hội thánh xem xét?  Sau một tuần cầu nguyện, cả hai bên đồng ý và bắt đầu lên kế hoạch họp.  Có một vài cách để giải quyết việc này, nhưng Sam Ericsson gợi ý cách thành công nhất là sử dụng một hội đồng gồm ba người (một luật sư Cơ đốc, một mục sư và một tín hữu có chuyên môn về lĩnh vực đang tranh chấp).  I Cô-rinh-tô 6:1-11 gợi ý là các bên tranh chấp biết rõ những người sẽ xét xử cho mình; những vị thẩm phán này không phải người xa lạ.  Họ phải là những người có uy tín về những phán quyết hợp tình hợp lý và công bằng. 

Cuộc hòa giải bắt đầu bằng ba câu hỏi: (1) "Tại sao các anh em lại có mặt ở đây?", được trả lời bằng việc đọc I Cô-rinh-tô 6:1-11; (2) "Chúng ta sẽ phải cư xử như thế nào?", đọc Phi-líp 2:1-8; và (3) "Thái độ của chúng ta sẽ phải như thế nào?", được trả lời bằng I Cô-rinh-tô 13.  Sau đó là lời cầu nguyện. 

Trong một phiên tòa thông thường, một phía cố gắng đưa ra các điểm mạnh nhất cho mình và tránh đề cập đến những điểm mạnh của đối phương.  Nhưng trong trường hợp này, cả bố mẹ nhận nuôi và bà mẹ trẻ đều xây dựng cho bên kia.  Thậm chí là cả các luật sư cũng bắt đầu chỉ ra những điểm mạnh của bên kia.  Sau buổi biện luận, hai bà mẹ ôm lấy nhau.  Mỗi bên rời buổi biện luận tin rằng người kia có lý hơn. 

Hội đồng suy ngẫm lời Chúa, xem xét cặn kẽ các vấn đề chứng cứ và tìm kiếm ý Chúa.  Cuối cùng, sau hai tuần, họ đưa ra phán quyết bằng văn bản kết luận rằng họ tin tưởng ý Chúa để cho đứa trẻ được tiếp tục sống với bố mẹ nuôi.  Đây không phải là một kết quả mà người mẹ trẻ muốn nghe, nhưng cô ấy nói "Tôi chưa bao giờ được trải qua một thủ tục công bằng hơn thế này, và tôi chấp nhận quyết định này." 

Khi chúng ta đưa vấn đề ra giữa Hội thánh, không có gì đảm bảo là chúng ta sẽ đạt được kết quả mà mình muốn.  Hội thánh thậm chí có thể mắc sai lầm.  Nhưng, chúng ta vẫn phải làm theo thủ tục mà Đấng Christ đã thiết lập tại Ma-thi-ơ 18:15-20 và Phao-lô khẳng định lại trong I Cô-rinh-tô 6:1-11.  Nếu thủ tục này được thực hiện một cách liêm chính, thì không có một thủ tục nào có thể công bằng hơn để giải quyết các tranh chấp giữa Cơ Đốc Nhân. 


Tôi cũng cùng một niềm tin với Sam Ericsson, chúng ta đang sống trong một thế giới sa ngã, không có bất cứ thủ tục, hệ thống pháp lý hay thẩm phán nào có thể đảm bảo chúng ta sẽ được điều mình muốn.  Tuy nhiên, mục đích cho cuộc sống của chúng ta ở trên đất là gây dựng cho thân thể của Đấng Christ qua việc gây dựng các anh chị em trong cùng đức tin.  Thủ tục hòa giải là cách làm tốt nhất!  

Thứ Bảy, 13 tháng 9, 2014

Sao các anh dám kiện nhau

Gần đây, tôi đọc một bài viết của luật sư Samuel E. Ericsson viết từ năm 1987 về chủ đề tranh tụng giữa những Cơ Đốc Nhân và tôi muốn chia sẻ một phần bài viết đó với các bạn đọc của blog này. 


Phương pháp giải quyết tranh chấp của đấng Christ được nêu rõ nhất tại I Cô-rinh-tô 6:1-11 và Ma-thi-ơ 18:15-20.  Nhưng thật đáng tiếc, Cơ Đốc Nhân không phải lúc nào cũng tuân thủ theo những hướng dẫn này.  Tôi nhớ lần đầu tiên đọc I Cô-rinh-tô 6:1-11 với tư cách một luật sư.  Sứ đồ Phao-lô trách những Cơ Đốc Nhân ở thành Cô-rinh-tô rằng: "Sao các anh em dám kiện nhau!"  Đối với người kiếm sống bằng nghề kiện tụng, câu nói đó cắt đúng vào tim.  Vì thế tôi kiểm tra kỹ lại xem Phao-lô thực sự có ý gì.  Tôi đã nghiên cứu cả bản tiếng Hy lạp và điều Phao-lô muốn nói đúng là "Sao các anh em dám kiện nhau!"  Quan tâm chính của Phao-lô là thân thể của đấng Christ chính là lời chứng tốt lành cho những người chưa tin. 

Trong câu 7, Phao-lô tiếp lời, "Sao chẳng thà bị đối xử bất công đi? Sao chẳng thà chịu bị lừa gạt đi?" Đối với suy nghĩ luật sư của tôi, từ "bất công" và "lừa gạt" nói đến hai vấn đề thiệt hại hoàn toàn khác nhau.  Một người có thể bị đối xử một cách bất công do sự vô ý của người khác.  Nhưng lừa gạt lại là một hành động có chủ đích.  Do vậy, cho dù do vô ý hay có chủ đích, Phao-lô muốn nói rằng thà chịu thiệt một cách riêng tư còn hơn là hủy hoại danh Đấng Christ trước công chúng. 


Trong Ma-thi-ơ 18:15-20, Chúa Giê-xu đã lập ra nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn cho những Cơ Đốc Nhân.  Bước 1: nói chuyện với người kia một cách riêng tư về vấn đề mâu thuẫn - một người với một người.  Bước 2: nếu cuộc gặp riêng đó không đem lại hòa giải, hãy nói chuyện lại với người đó một lần nữa dưới sự chứng kiến của một hoặc hai nhân chứng có thể làm chứng xác minh sự thật.  Bước 3: nếu buổi gặp thứ hai cũng không đưa đến sự hòa giải, đưa vấn đề này ra trước Hội thánh để cùng giải quyết.  Bước 4: nếu Hội thánh sau khi nghe xong, cũng không hòa giải được, và một người không đồng ý với quyết định của Hội thánh, và chỉ trong trường hợp đó, người đó sẽ bị coi là người ngoại (dứt phép thông công).  Nguyên tắc ở đây là trong tất cả các bước, mục tiêu xuyên suốt là hòa giải giữa các bên.  Hội thánh phải hành động một cách có trách nhiệm, hành xử để bảo vệ tính chính trực của nhiệm vụ mà Chúa đã ủy thác cho chúng ta.  Chỉ có thông qua công việc của Đấng Christ trong Hội thánh mà các mâu thuẫn có thể được giải quyết một cách thành công. 

Vài năm trước, hội thánh mà tôi đi nhóm xây dựng một cơ sở mới trị giá 2,3 triệu USD.  Hội thánh có một hợp đồng "chìa khóa trao tay", có nghĩa là bên nhà thầu xây dựng sẽ có trách nhiệm với tất cả mọi khoản chi phí phát sinh.  Để chốt mức giá này, hội thánh đã thanh toán một khoản tiền đặt cọc khá lớn. 

Trong khi đang thi công, một khoản phí 180.000 USD phát sinh.  Mâu thuẫn nảy sinh, và mục sư tuyên bố với các tín hữu là ban chấp sự sẽ gặp với nhà thầu xây dựng, cũng tự nhận là Cơ Đốc Nhân.  "Nếu chúng ta không giải quyết được việc này," mục sư nói, "có lẽ chúng ta sẽ ra tòa."  Sau thông báo, tôi xin phép trưởng ban chấp sự được tham gia buổi họp với tư cách người quan sát.  Trong buổi họp đó, tôi lắng nghe hơn một tiếng rưỡi hai bên thương thảo về khoản phát sinh 180.000 USD.  Thực tế là hai bên đều đã cố gắng với thiện chí.  Không có dấu hiệu gì về việc cố tình làm trái, nhưng vấn đề 180.000 USD vẫn còn đó.  Cả hai bên đều có cơ sở pháp lý.  Vậy họ nên làm gì? 

Tôi dần nhắc cho mọi người về I Cô-rinh-tô 6:1-11, "Sao các anh em dám kiện nhau!"  Trong vòng một tiếng rưỡi tiếp theo, hội thánh đã đồng ý sẽ trả thêm 70.000 USD, và nhà thầu xây dựng sẽ chịu lỗ 110.000 USD.  Giáo sư dạy tôi ở trường luật chắc hẳn đã tự hào.  Chỉ một tiếng rưỡi đã giải quyết xong một mâu thuẫn mà không cần phải kiện tụng; thật là tuyệt. 

Nhưng công việc của tôi vẫn còn dang dở.  Công việc phân chia đúng sai thì tòa án nào cũng làm được, nhưng thường thì họ mất đến bảy năm để thực hiện.  Hơn nữa, rõ ràng là cả hai bên đều không vui vì bị mất tiền.  Đại diện nhà thầu nói "Cộng sự của tôi và tôi bay từ Michigan đến để ngồi thương lượng mặt đối mặt với các vị vì chúng tôi cũng không muốn phải qua luật sư." 
Tôi hỏi "Chi phí các ông bay đến đây là bao nhiêu?"

"610 USD, 305 USD cho mỗi người," ông ấy nói. 

Tôi rút quyển séc ra và viết một tờ séc 610 USD và đưa cho ông ấy. 

Ông ta hỏi "Cái này để làm gì?"

Tôi trả lời, "Kinh Thánh dạy rằng khi một thành viên của thân thể chịu khổ, tất cả chúng ta cùng chịu khổ.  Các ông vừa chịu lỗ 110.000 USD; hội thánh thì bị mất 70.000 USD.  Việc nhỏ nhất tôi có thể làm là chia sẻ một phần sự mất mát đó với các ông, vì tôi tin rằng các ông đều làm việc có thiện chí." 

Sau khi nghe tôi giải thích, người đại diện của nhà thầu viết tên ông ấy và chuyển lại tờ séc làm tiền dâng hiến cho hội thánh.  Theo tôi, ông ấy vừa mất 110.610 USD, trong đó 110.000 USD để giải quyết tranh chấp và 610 USD để hàn gắn mối quan hệ! 



Sam Ericsson cũng kể lại câu truyện này trong bài giảng tại trường Master's College trong đường link trên đây.  Các bạn có thể nghe lại bài giảng khi có thời gian.  

Luật sư Samuel E. Ericsson

Samuel E. Ericsson tốt nghiệp đại học University of Southern California năm 1966, lấy bằng luật tại Harvard Law School năm 1969.  Khi viết bài báo mà tôi trích dẫn ở trên, Sam Ericsson là luật sư hợp danh của một công ty luật lớn ở Los Angeles, California, Hoa Kỳ chuyên về tranh tụng thương mại.  Ông đồng thời giữ chức Giám đốc Cao cấp của tổ chức luật sư Cơ đốc, Christian Legal Society với 4,500 thành viên.  Trong suốt thập niên 1980, Sam Ericsson viết hơn 50 đơn đề nghị gửi lên Tòa Án Tối Cao Hoa Kỳ về các vấn đề liên quan đến quan hệ chính phủ - hội thánh.  Năm 1991, Sam Ericsson sáng lập tổ chức Advocate International, mạng lưới liên kết luật sư, thẩm phán với hơn 30,000 thành viên trên 150 quốc gia.  Sam Ericsson qua đời năm 2011 sau 11 năm chống trọi với căn bệnh ung thư.