Thứ Bảy, 30 tháng 8, 2014

Tất cả những gì bạn cần là Tình yêu của Chúa Giê-xu

Tôi chắc rằng những người hâm mộ dòng nhạc Rock&Roll và ban nhạc The Beetles đã khá quen thuộc với những ca từ sau đây:

There's nothing you can do that can't be done [Không có gì bạn làm được mà lại không được làm]
Nothing you can sing that can't be sung [Không có gì bạn hát được mà lại không được hát]
...
There's nothing you can make that can't be made [Không có gì bạn tạo ra được mà lại không được tạo ra]
No one you can save that can't be saved
[Không có ai bạn cứu được mà lại không được cứu]
...
There's nothing you can know that isn't known [Không có gì bạn hiểu được mà lại không được hiểu]
Nothing you can see that isn't shown [Không có gì bạn nhìn được mà lại không được bày tỏ ra]
...
All you need is love [Tất cả những gì bạn cần là tình yêu]
All you need is love
[Tất cả những gì bạn cần là tình yêu]
All you need is love, love
[Tất cả những gì bạn cần là tình yêu, tình yêu]
Love is all you need
[Tình yêu là tất cả những gì bạn cần]

Đây là lời của bài hát "All You Need Is Love" [tạm dịch "Tất cả những gì bạn cần là tình yêu"] do John Lennon và Paul McCartney của ban nhạc The Beetles sáng tác năm 1967.  Nhiều năm sau đó, trong một cuộc phỏng vấn về nội dung của một số bài hát mang nội dung tuyên truyền, John Lennon không ngần ngại tuyên bố rằng bài hát này là để tuyên truyền những ý tưởng về một thế giới đại đồng.  Việc tôi không đồng ý với nhiều quan điểm của John Lennon theo thế giới quan chủ nghĩa nhân văn sẽ là chủ đề cho một bài viết khác. 

Từ thế giới quan của Kinh Thánh, đúng là nếu có được tình yêu thì chúng ta có được tất cả.  Nhưng đó là tình yêu gì?  Điều quan trọng nhất chúng ta đạt được là gì? 


Tối thứ Năm tuần này, vợ chồng tôi cùng Hội Thánh Messiah dự buổi lễ tưởng niệm cuộc đời của một tín hữu hội thánh, bà Peggy Sweeney (sinh ngày 14 tháng 3 năm 1943, mất ngày 20 tháng 8 năm 2014).  Khi chúng tôi gặp bà Peggy lần đầu vào tháng 1 năm nay, bà vừa mới kinh nghiệm được sự chữa lành của Chúa khi Ngài thực hiện một phép lạ là cắt đi cho bà những cục máu đông trong tĩnh mạch mà không cần phải dùng thuốc hay phẫu thuật.  Lúc đó các bác sỹ đều ngạc nhiên khi nhìn vào phim chụp cắt lớp để chuẩn bị lên phác đồ điều trị thì các cục máu đông đã biến mất.  Nhưng đó cũng là thời điểm mà các bác sỹ phát hiện ra các chỉ số máu của bà Peggy thể hiện bà bị ung thư giai đoạn bốn. 

Kể từ đó, căn bệnh ung thư và những lần trị xạ làm cho sức khỏe của bà Peggy yếu đi rất nhanh.  Vợ chồng chúng tôi, nhóm tế bào và hội thánh cùng gia đình cầu nguyện rất nhiều cho bà, nhưng tất cả chúng tôi đều không hiểu được tại sao Chúa lại không chữa lành cho bà căn bệnh này.  Nếu Chúa có thể làm cho các cục máu đông trong tĩnh mạch biến mất thì Ngài cũng có thể làm cho các tế bào ung thư biến mất.  Cũng tại hội thánh Messiah, có người được Chúa chữa lành căn bệnh ung thư.  Việc Chúa chữa lành bệnh cho người này nhưng không phải người khác, hay chữa lành lúc này nhưng không phải lúc khác làm cho con người chúng ta thật khó hiểu. 

Hai tuần trước khi về với Chúa, khi đang phải chiến đấu với căn bệnh ung thư, bà Peggy đến dự buổi lễ sáng Chúa Nhật lần cuối cùng với hội thánh Messiah, bà đứng lên chia sẻ "Qua mọi điều này, tôi nhận ra rằng chỉ cần Chúa Giê-xu là đủ[1]".  Câu nói này của bà Peggy là một lời chứng mạnh mẽ về cuộc đời của một người có Chúa Giê-xu làm chủ.  Chúng ta cũng được nhắc nhở bởi chính lời của Chúa Giê-xu khi Ngài cầu nguyện trước khi bị bắt và bị đóng đinh "Cha ơi, nếu Cha muốn, xin cất chén này khỏi con; nhưng không theo ý con, mà nguyện theo ý Cha[2]."  Trong cuộc đời, có nhiều việc xảy ra với chúng ta mà chúng ta không giải thích được, nhưng cuộc sống của chúng ta có niềm hy vọng, đức tin đặt vào nơi Chúa. 

Dưới đây là vài dòng trong bài điếu văn của bà Peggy Sweeney. 

               Peggy kết hôn với Tom Sweeney năm 1987 tại Richmond, Va., và họ đã sống một hôn nhân hạnh phúc suốt 27 năm.  Peggy là một tín hữu trung tín và yêu thương của hội thánh Messiah.  Bà sống một cuộc sống Cơ đốc giản dị và biết những điều quan trọng trong cuộc sống là gì.  Bà là một người mẹ yêu thương và tận hiến của mười người con và là định nghĩa "Gấu Mẹ" khi phải đứng ra bảo vệ chúng.[3] 

Được biết bà Peggy và gần gũi với bà trong những tháng ngày cuối của bà ở trên đất, thật là phước hạnh lớn với chúng tôi khi được bà nhận làm con cháu trong gia đình.  Cuộc sống của bà là một lời chứng mạnh mẽ rằng "tất cả những gì bạn cần là tình yêu của Chúa Giê-xu."



[1] "After all this, I know that Jesus is enough"
[2] Father, if you are willing, take this cup from me; yet not my will, but yours be done. Luke 22:42 NIV
[3] Peggy married Tom Sweeney in 1987 in Richmond, Va., and they were happily married for 27 years.  Peggy was a faithful and well-loved member of Church of the Messiah.  She lived a simple Christian life and knew what the important things in life were.  She was a loving and devoted mother to her ten children and was the definition of "Momma Bear" when it came to protecting them.  

Thứ Bảy, 23 tháng 8, 2014

Người dâng nhiều nhất

"Quả thật, Ta nói với các ngươi, bà góa nghèo nầy đã bỏ vào thùng tiền dâng nhiều hơn những người khác" Lu-ca 21:3



Một ngày kia khi Chúa Giê-xu ngồi trong đền thờ và thấy một người đàn bà góa bỏ vào hòm dâng hiến hai đồng xu[1] và Ngài nói với những người xung quanh rằng bà góa này dâng nhiều hơn tất cả những người khác.  Ngay lúc đó, Chúa Giê-xu giải thích cho các môn đồ rằng mọi người chỉ dâng cho Đức Chúa Trời phần mình có dư, nhưng người đàn bà này đã dâng tất cả những gì mình có! 

Phép toán trong Nước Đức Chúa Trời quả thật không giống với cách mà thế gian nhìn nhận.  Có một ví dụ thú vị mà các triết gia đã mất rất nhiều công sức và giấy mực là để phân định xem một cái cốc là "cạn một nửa" hay "đầy một nửa".  Người bi quan (pessimist) cho rằng cái cốc đã cạn một nửa và họ luôn lo lắng rằng cái cốc sẽ tiếp tục cạn hơn nữa.  Người lạc quan (optimist) cho rằng cái cốc đã được đầy một nửa vì họ hy vọng rằng cái cốc sẽ được đổ thêm cho đầy hơn.  Quan điểm hay thế giới quan là điều khó thay đổi vì nó chính là lăng kính mà chúng ta qua đó nhìn mọi sự vật, sự kiện xảy ra xung quanh.  Cái cốc trong mắt người bi quan sẽ không bao giờ đầy và cái cốc trong mắt người lạc quan sẽ không bao giờ cạn. 


Quay trở lại câu truyện về người đàn bà góa được Lu-ca ghi chép lại, liệu bà ấy là người bi quan hay lạc quan?  Khi chúng ta nhìn vào câu truyện về những con người có thật và sự kiện thực sự xảy ra, các lý luận triết học trở nên nông cạn và quá đơn giản.  Khi giảng dạy trên đất, Chúa Giê-xu rất hay dùng các hình ảnh ẩn dụ để chia sẻ về Nước Đức Chúa Trời, nhưng cũng có đôi lúc, Ngài sử dụng một câu truyện có thực để giải thích cho người nghe về những giá trị trong Nước Đức Chúa Trời, và đây là một câu truyện thực tế đã xảy ra.  Trong xã hội Do Thái đầu Công Nguyên, phụ nữ góa bụa là những người khó khăn nhất vì họ mất đi người chồng.  Trong xã hội đó, người chồng là trụ cột về kinh tế, thuộc linh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về bất cứ vi phạm nào do vợ hoặc con cái gây ra.  Khi người chồng mất đi, tất cả những nghĩa vụ đó sẽ đổ lên đầu người vợ góa.  Hơn nữa, số tiền bà góa này dâng cũng là số tiền rất nhỏ, vì lepta là đồng tiền có mệnh giá thấp nhất trong bảng tiền tệ của Hy Lạp Cổ đại. 

Khi nhìn vào cái cốc đang đầy hay vơi, dù với thế giới quan nào đi chăng nữa thì một người cũng sẽ phải đưa ra một so sánh.  Người bi quan thì dùng thước đo "cạn" để so sánh trong khi người lạc quan dùng thước đo "đầy" để so sánh.  Nhưng toán học và triết học trong Nước Đức Chúa Trời thì không sử dụng thước đo thông thường để so sánh.  Đức Chúa Trời nhìn vào tấm lòng của con người! 

Để minh họa, tôi muốn chia sẻ với các bạn về bà Lee, một tấm gương trong sự dâng hiến mà tôi được gặp nhờ sự dẫn đưa của Chúa Thánh Linh. 

Bà Lee sinh năm 1942 tại bán đảo Triều Tiên trong thời Đế Quốc Nhật Bản chiếm đóng.  Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt bởi chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), bà Lee quyết định tìm con đường thoát thân để tìm một tương lai tươi sáng hơn.  Năm 1968, khi 26 tuổi, bà Lee học xong chứng chỉ y tá ở Hàn Quốc và được sang New York, Mỹ theo diện xuất khẩu lao động với nghề y tá.  Ngay khi đến Mỹ, bà tìm đến nhà thờ mặc dù chưa tin Chúa vì đó là nơi cộng đồng người Hàn Quốc nhóm họp và chia sẻ, giúp đỡ nhau, nhưng cũng tại đó mà bà gặp Chúa.  Sau khi kết hôn, bà Lee và chồng tiếp tục làm việc một cách cần mẫn nhưng công việc của họ có nhiều vất vả. 

Năm 1977, gia đình họ mua một căn nhà nhỏ ở Staten Island, New York.  Một thời gian ngắn sau, hai vợ chồng bà Lee quyết định vay một khoản tiền lớn để mua lại một tiệm giặt là.  Như nhiều gia đình nhập cư khác, họ làm việc từ 12-14 giờ mỗi ngày.  Bà Lee vừa phụ giúp công việc của cửa hàng, vừa chăm sóc hai con nhỏ.  Bà Lee kể lại, hàng ngày, sau khi cho các con ăn, giúp con học bài rồi đi ngủ, bà Lee lại xuống tầng hầm để làm một số việc may vá theo đơn của khách tại tiệm giặt.  Với bà, khoảng thời gian từ 9 giờ tối đến 1 giờ đêm là thời gian phước hạnh vì bà được tĩnh lặng trước Chúa, bà thường nghe các bài giảng của Tiến sĩ James Dobson qua chương trình Focus on the Family[2] trong lúc làm việc. 

Đầu những năm 1980, Tiến sĩ Dobson có bài phỏng vấn Tiến sĩ David A. Noeble và qua đó giới thiệu về Summit Ministries, chương trình trại hè mà Tiến sĩ Noeble đã phát triển để chuẩn bị cho giới trẻ về thế giới quan của Cơ Đốc Giáo.  Ngay sau khi nghe bài giới thiệu về Tiến sĩ Noeble và Summit Ministries, bà Lee quyết định đăng ký cho cô con gái lớn theo học tại Summit Ministries, rồi tiếp sau đó là cậu con trai.  Được Chúa cảm động và qua những ảnh hưởng nhìn thấy được qua con cái mình, bà Lee bắt đầu đi vận động và chia sẻ với các gia đình trong hội thánh của mình.  Một thời gian ngắn sau, các thanh thiếu niên trong hội thánh mà gia đình bà nhóm đều hoàn thành khóa học của Summit Ministries.  Trong các năm tiếp theo, bà Lee kiên trì đi đến các hội thánh có đông tín đồ là người Hàn Quốc ở các khu vực quanh New York để giới thiệu về Summit Ministries. 

Năm 1996, bà Lee chính thức thành lập quỹ học bổng Korean Scholarship for the Summit Ministries ("KSSM") để hỗ trợ cho các học sinh có hoàn cảnh khó khăn muốn tham dự Summit Ministries.  Từ năm 2006, quỹ học bổng KSSM mở rộng và cấp cả học bổng cho thanh thiếu niên học tập và sinh sống ở Hàn Quốc đến học tại Summit Ministries.  Đến nay, quỹ học bổng KSSM đã cấp học bổng cho khoảng 140 thanh thiếu niên đến từ New York, Hàn Quốc, Việt Nam, Nam Phi và nhiều nơi trên khắp thế giới học tại Summit Ministries. 

Mùa hè 2014 vừa qua, khi vợ chồng tôi đến thăm, bà Lee và chồng đã nghỉ không còn làm tiệm giặt là nhưng họ vẫn sống ở ngôi nhà nhỏ ở Staten Island, và căn nhà dường như không thay đổi gì từ khi mua năm 1977.  Chúng tôi không khỏi ngạc nhiên vì những điều kỳ diệu và lớn lao mà Đức Chúa Trời đã làm thông qua người phụ nữ nhỏ bé này.  Qua sự dâng hiến và tận tâm của bà Lee, KSSM đã được xây dựng và phát triển, và KSSM sẽ tiếp tục thay đổi cuộc sống của nhiều người.  Sự dâng hiến ban đầu của bà Lee và gia đình cho KSSM không thể đong đếm được bằng tiền vì những giá trị mà nó để lại là vô giá.  Cũng giống như người đàn bà góa được Chúa Giê-xu nhắc đến trong phúc âm Lu-ca, tấm lòng của bà Lee khi dâng hiến không đặt trọng tâm vào mình mà đặt vào Chúa, vào công việc mà Ngài kêu gọi.

Chúa đang kêu gọi bạn dâng gì cho Ngài?  Bạn có sẵn sàng dâng mình làm công cụ hữu ích trong tay Chúa không? 




[1] Trong bản Tiếng Hy Lạp sử dụng từ "lepta" (λεπτά): đồng tiền có mệnh giá thấp nhất trong hệ thống tiền tệ Hy Lạp Cổ đại.  Trong thời cận đại, Hy Lạp có đúc ra tiền xu lepta này với mệnh giá thấp nhất là 5 lepta. 
[2] tạm dịch là "Tập trung vào Gia đình"

Thứ Ba, 17 tháng 6, 2014

Tấm lá chắn

 "Ngài là tấm lá chắn cho những kẻ nào nương náu mình nơi Ngài." Thi Thiên 18:30b


Sau khi xem phần 2 phim Đại Úy Mỹ - Chiến Binh Mùa Đông, tôi được nhắc nhở về một vật thật gần gũi với nhân vật này, đó là tầm lá chắn của Đại Úy Mỹ.  Khi tìm hiểu lịch sử chiến tranh nhân loại, các nhà chiến lược luôn có hai lựa chọn là tấn công hoặc phòng vệ.  Các loại vũ khí được phát minh, phát triển và nâng cấp cũng chỉ để phục vụ cho một trong hai mục đích, vũ khi tấn công hoặc vũ khí phòng vệ.  Trong ngành công nghiệp vũ khí, có lẽ, vũ khí phòng vệ ít được chú trọng hơn, và tấm lá chắn là loại vũ khí thô sơ, ít được nâng cấp phát triển.  Thật thú vị khi những nhà viết truyện tranh của Marvel tạo ra một nhân vật chiến binh mà vũ khí chiến đấu duy nhất của anh ta là tấm lá chắn. 

Trước hết chúng ta biết tấm lá chắn của Đại Úy Mỹ được làm từ một loại hợp kim chịu được sức tấn công vô hạn.  Búa thần của Thor hay nguồn năng lượng của Người Sắt cũng không hề làm tấm lá chắn này mảy may.  Có thể nói, tấm lá chắn thô sơ, kết cấu giản đơn đó không có gì đặc biệt hơn so với những tấm lá chắn thời cổ đại của người Sparta hay những chiến binh Mác-xê-đô-nia của Alexander Đại Đế chinh phạt Châu Á.  Điểm khác biệt duy nhất là nó được làm bằng một vật liệu viễn tưởng có thể chịu được sự công phá của các vũ khí tấn công tối tân nhất.  Mục đích duy nhất của một tấm lá chắn, cho dù ở thời kỳ nào thì cũng là để bảo vệ người chiến binh khỏi sự tấn công của đối phương. 

Hình ảnh tấm lá chắn cũng được sử dụng rất nhiều trong Kinh Thánh.  Vua David[1], một chiến binh và một nhà quân sự nổi tiếng nhất trong lịch sử của người Do Thái, đã nhiều lần ví sánh Đức Chúa Trời là tấm lá chắn cho những ai nương náu mình nơi Ngài.  Cuộc đời của David là một loạt các cuộc chiến tranh để lập nên nhà nước Do Thái, chinh phạt các dân tộc lân cận và dẹp yên các cuộc nổi loạn từ nội bộ hoàng gia.  Cho dù các chiến tích của ông có dài đến đâu, hào hùng đến đâu thì qua các bài thơ của mình, David chỉ thấy thực sự được bình an khi nương náu nơi Đức Chúa Trời.  Đối với David, Đức Chúa Trời chính là tấm lá chắn không thể phá hủy được. 

Trong thời Tân Ước, sứ đồ Phao-lô cũng nhắn gửi các tín hữu ở thành Ê-phê-sô hãy trang bị cho mình những vũ khí phòng vệ trược sự tấn công và hủy phá của ma quỷ.  Trong thư[2], Phao-lô nói tấm lá chắn của người Cơ Đốc Nhân chính là đức tin của chúng ta nơi Đức Chúa Trời và nhờ đó, chúng ta được an toàn trước mọi mưu mô tấn công của kẻ địch. 

Qua thư gửi cho người Ê-phê-sô, Phao-lô nói về một cuộc chiến không phải bằng xác thịt mà là cuộc chiến thuộc linh.  Cuộc chiến thuộc linh mà Phao-lô nói cũng không khác gì cuộc chiến thuộc linh ngày nay.  Ma quỷ vẫn sẽ luôn tìm cách tấn công chúng ta khi chúng ta mất cảnh giác và sơ sảy trong cuộc chiến này.  Tấm lá chắn đức tin nơi Đức Chúa Trời không thể hủy phá được nhưng tấm là chắn đó sẽ không có hiệu quả nếu chúng ta không dùng để phòng vệ trước sự tấn công của ma quỷ.  Tấm là chắn của các bạn đang trong tình trạng nào?  Bạn có sẵn sàng trong cuộc chiến thuộc linh khi ma quỷ tấn công hay không? 




[1] Sinh khoảng năm 1040 Trước Chúa và mất khoảng năm 970 Trước Chúa
[2] Ê-phê-sô 6:10-18

Thứ Bảy, 7 tháng 6, 2014

Eo biển Hellespont

Eo biển Hellespont (Ἑλλήσποντος), còn được gọi là Dardanelles (Δαρδανέλλια), là con đường giao thương nổi tiếng thời cổ đại.  Một bên eo biển là Hy Lạp (Châu Âu) còn một bên là Thổ Nhĩ Kỳ (Châu Á).  Eo biển này nối giữa Biển Marmara (nối ra Biển Đen) và Biển Aegean (nối ra Địa Trung Hải).  Vì vị trí đặc biệt của nó mà bất cứ một ai muốn cai trị cả thế giới Á-Âu đều phải vượt qua vùng biển này. 


Năm 480 Trước Chúa, Hoàng Đế Xerxes I của Đế Quốc Ba Tư cổ đã dẫn một đạo quân khổng lồ vượt qua Hellespont với ý định đánh dẹp sự nội dậy của người Hy Lạp.  Sau khi vượt qua eo biển Hellespont, Xerxes I đã không gặp sự kháng cự nào của người Hy Lạp cho đến khi ông ta gặp phải sự bất khuất, kiên cường của đội quân Sparta tinh nhuệ tại trận Thermopylae và liên quân Hy Lạp tại Athens. 

Gần 150 năm sau, năm 334 Trước Chúa, sau khi thống nhất được các thành bang Hy Lạp dưới sự cai trị của Ma-xê-đô-ni-a, Alexander Đại Đế (22 tuổi) thống lĩnh đại quân Hy Lạp vượt Hellespont, đánh tan Đế Quốc Ba Tư cổ. 

Có một sự kiện vượt eo biển Hellespont từ Châu Á sang Châu Âu có lẽ ít được nhắc đến hơn, nhưng nó lại có ý nghĩa thay đổi dòng lịch sử một cách mạnh mẽ và sâu sắc hơn cả.  Năm 50 Sau Chúa, sứ đồ Phao-lô cùng với Si-la, Ti-mô-thê và Lu-ca (người viết phúc âm Lu-ca) khi đang ở thành Trô-ách (Troy[1] - Thổ Nhĩ Kỳ) đã lên đường vượt biển sang thành Phi-líp (Hy Lạp).  Trong thời cổ đại, Trô-ách là vùng đất tận cùng của Châu Á và là nơi buôn bán tấp nập giữa Á-Âu.  Trong chuyến đi truyền giáo thứ hai, Phao-lô đi từ An-ti-ốt đến Trô-ách thăm qua nhiều hội thánh mà ông đã thành lập trong chuyến đi truyền giáo thứ nhất.  Khi đến Trô-ách, ông rất muốn quay trở lại tiếp tục gây dựng và mở rộng các hội thánh ở Châu Á, nhưng Đức Chúa Trời có một kế hoạch khác cho ông và Đức Thánh Linh ngăn cản việc ông quay lại Châu Á. 


Cũng chính tại Trô-ách, Đức Thánh Linh mách bảo cho Phao-lô trong cơn chiêm bao qua hình ảnh một người đàn ông Ma-xê-đô-ni-a đến năn nỉ Phao-lô giúp đỡ họ.  Chính vì lý do này, đoàn truyền giáo của Phao-lô đã đến thành Phi-líp, xứ Ma-xê-đô-ni-a.  Khác với các thành phố ở Châu Á mà Phao-lô truyền giáo đến trước đó đều có nhà hội của người Do Thái, thành Phi-líp không có hoặc có ít người Do Thái nên không có nhà hội.  Vì thế, đến ngày sa-bát, đoàn của Phao-lô ra ngoài thành để cầu nguyện.  Cũng chính tại đây, đoàn của Phao-lô gặp một nữ doanh nhân tên là Ly-đi.  Chúa mở lòng và Ly-đi cùng gia đình bà quy đạo, và họ trở thành những người Châu Âu đầu tiên tiếp nhận Phúc Âm.  Ngôi nhà của Ly-đi cũng trở thành nơi nhóm họp của các tín đồ tại thành Phi-líp và đó là hội thánh đầu tiên được thành lập ở Châu Âu. 



Sự kiện đoàn truyền giáo của Phao-lô từ Châu Á sang Châu Âu đã mở đầu cho sự mở rộng mạnh mẽ của Phúc Âm cứu rỗi, vượt khỏi phạm vi của Do Thái Giáo, và đánh dấu bước đầu Cơ Đốc Giáo trở thành toàn cầu.  Người tin theo Phúc Âm không chỉ là người Do Thái mà còn có người Hy Lạp và vô số các dân tộc khác.  Phúc Âm cũng không chỉ được giảng dạy trong các nhà hội Do Thái, mà các tín hữu còn nhóm họp, học lời Chúa và cầu nguyện tại nhà riêng.  Từ thời điểm đó, ở bất cứ nơi đâu mà Phúc Âm chưa được truyền đến, ở đó có người cần được giúp đỡ như hình ảnh người đàn ông Ma-xê-đô-ni-a năn nỉ Phao-lô đến giúp. 



[1] Nơi đã nổ ra cuộc chiến thành Troy trong khoảng thế kỷ 12-14 Trước Chúa, và được nhà thơ mù Homer kể lại trong bản trường ca Iliad.  

Thứ Bảy, 31 tháng 5, 2014

Câu truyện về hai thành phố

"Ý muốn của Đức Chúa Trời là sống đúng con người mà Ngài muốn mình trở thành trong cuộc sống hàng ngày" - Nghị Sỹ Hạ Viện Hoa Kỳ Cathy McMorris Rodgers



Câu truyện về hai thành phố:
Gần đây, Đảng Cộng Hòa Hoa Kỳ chọn bà Cathy McMorris Rodgers làm phát ngôn viên cho đảng tại Hạ Viện Hoa Kỳ, và Cathy trở thành một trong những người phụ nữ quyền lực nhất tại thủ đô Washington D.C (trung tâm chính trị ở bờ Đông nước Hoa Kỳ).  Ngay sau đó, kênh truyền hình CBN làm một phóng sự ngắn về người phụ nữ quyền lực này, và thật ngạc nhiên cho nhiều người là người phụ nữ nhỏ bé này có xuất thân từ một gia đình nông dân, và hiện tại, gia đình bà vẫn cư trú ở tiểu bang Washington (một miền nông thôn ở bờ Tây nước Hoa Kỳ). 


Xuất thân:
Nghị sỹ Cathy McMorris Rodgers sinh ngày 22 tháng 5 năm 1969 tại tiểu bang Oregon bên bờ Tây nước Mỹ trong một gia đình nông dân.  Hồi nhỏ, có nhiều năm, Cathy cùng gia đình chuyển đến sống ở một trang trại tại tiểu bang British of Columbia, Canada.  Gia đình bà xây dựng một túp lều gỗ mà không có điện nước hay bất cứ tiện nghi sinh hoạt nào, ngôi nhà đó được Cathy ví như "ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên".  Khi họ quay về Mỹ, Cathy vừa học vừa giúp bố mẹ chăm sóc trang trại. 

Trong những năm học đại học tại Pensacola Christian College, Cathy làm thêm tại nhà hàng McDonald's để kiếm tiền sinh hoạt.  Năm 1990, Cathy là người đầu tiên trong gia đình có được tấm bằng đại học. 

Sự nghiệp chính trị:
Sau khi tốt nghiệp đại học, Cathy được nhận vào làm trợ lý cho một nghị sỹ bang Washington.  Năm 1994, khi mới 25 tuổi, bà chính thức trở thành nghị sỹ bang Washington và liên tục giữ ghế này cho đến năm 2005. 

Năm 2005, khi bà 36 tuổi, Cathy trúng cử nghị sỹ hạ viện Hoa Kỳ.  Kể từ đó, bà đã liên tục được bầu lại đến 5 nhiệm kỳ. 

Cuộc sống gia đình:
Năm 2006 khi bà 36 tuổi, Cathy kết hôn với chồng là Brian Rodgers, trung tá hải quân giải ngũ.  Cathy cho rằng Brian là người đàn ông mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho bà.  Vì là một trung tá hải quân giải ngũ, Brian trở thành người đàn ông nội trợ để vợ có thể tập trung vào sự nghiệp chính trị.  Cathy và Brian đã có với nhau ba người con, và Cathy lập kỷ lục là nghị sỹ hạ viện đầu tiên sinh nở ba lần khi đang đương nhiệm. 

Cuộc sống của Cathy không phải không gặp những khó khăn.  Biến cố lớn nhất với bà là con trai lớn, Cole, từ khi sinh ra đã mắc chứng bệnh down.  Nhưng, Cathy và Brian không lấy đó là rào cản đức tin của mình mà họ công nhận sự tể trị tuyệt đối của Đức Chúa Trời trên đời sống. 


Nguyên tắc của Cathy là làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời là sống đúng con người mà Ngài muốn mình trở thành trong cuộc sống hàng ngày!